Truy cập nội dung luôn

Chi tiết tin

Báo chí Trung Quốc bình luận về sức hấp dẫn của Việt Nam trong thu hút FDI toàn cầu

GDP bình quân đầu người của Việt Nam chưa đến 3.000 USD, nhưng trong bối cảnh chiến tranh thương mại Trung - Mỹ và đại dịch Covid-19, Việt Nam đã trở thành điểm nóng về đầu tư nước ngoài. Chính phủ Nhật Bản đã chi 2,2 tỷ USD để hỗ trợ các công ty Nhật Bản di dời cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc bằng sức mạnh tài chính. Một nửa trong số 30 công ty đầu tiên chuyển đến Đông Nam Á được công bố vào tháng 7 sẽ chuyển đến Việt Nam. Sau đó, Hiệp định Thương mại Tự do EU -Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực vào tháng 8/2020. Hiệp định cấp cao này sẽ cắt giảm 99% thuế quan song phương trong vòng mười năm. Chưa kể, gã khổng lồ Samsung của Hàn Quốc đã rút toàn bộ việc sản xuất hàng điện tử tiêu dùng khỏi Trung Quốc và phần lớn chuyển sang Việt Nam, nhiều công ty sản xuất Trung Quốc cũng coi Việt Nam là điểm đến ưa thích để tránh thuế quan của Mỹ và chuyển hướng sản xuất. Quy mô đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng lớn, thể hiện cục diện mới vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

Nhà máy của UMC (Nhật Bản) tại Việt Nam. (Nguồn: baodautu.vn)

Việt Nam có gì để  thu hút đầu tư nước ngoài?

Lịch sử thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam có thể được chia thành ba giai đoạn gồm: thứ nhất là sau năm 1986, Việt Nam thực hiện theo chính sách cải cách, mở cửa; thứ hai là sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007; và thứ ba là kể từ năm 2015, sự chuyển dịch công nghiệp từ Trung Quốc và chiến tranh thương mại Trung - Mỹ là những cột mốc chính thúc đẩy FDI tăng tốc đến Việt Nam. Lợi thế thực sự của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài để chuyển dịch sản xuất là: 

Thứ nhất, mức độ mở cửa kinh tế và thương mại cao. Về thương mại, là thành viên của ASEAN, được hưởng thị trường thương mại tự do của Cộng đồng ASEAN và chuỗi hiệp định thương mại tự do "ASEAN + 1" (bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ, v.v…) Việt Nam cũng đã tham gia CPTPP tiêu chuẩn cao và RCEP bao gồm Trung Quốc; và đã ký Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU được gọi là "Hiệp định Thương mại Tự do Thế hệ mới" với EU, và thuế quan đối với EU sẽ dần dần được giảm xuống 0. Chiến tranh thương mại đã khiến mức thuế quan giữa Trung Quốc và Mỹ tăng lên đáng kể, đồng thời làm nổi bật lợi thế về thuế quan thấp của Việt Nam. Các biện pháp tự do hóa của Việt Nam không chỉ nhằm giảm chi phí thương mại mà còn nhằm thúc đẩy cải cách trong nước, đạt được mở cửa chất lượng cao và tạo ra một chuỗi công nghiệp đa dạng và bền vững. Về đầu tư, tình hình chính trị của Việt Nam ổn định và phạm vi đầu tư được phép rộng, Theo Chỉ số hạn chế FDI năm 2019 do OECD tổng hợp, Việt Nam cởi mở hơn với đầu tư nước ngoài so với Trung Quốc, và chỉ đứng sau Singapore và Myanmar trong ASEAN.

Thứ hai, Chính phủ Việt Nam có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ để thu hút doanh nhân nước ngoài, bao gồm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp và nhiều điều kiện ưu đãi, điều này càng làm tăng sức hấp dẫn của doanh nghiệp. Các yếu tố khác nhau đã thúc đẩy dòng vốn nước ngoài liên tục vào Việt Nam. Trong tám tháng đầu năm nay, 64% xuất khẩu của Việt Nam đến từ khu vực đầu tư nước ngoài. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như điện thoại di động, máy tính, máy móc, quần áo, giày dép đều có sự tham gia sâu rộng của vốn nước ngoài.

Thứ ba, đầu tư tìm kiếm thị trường cũng có triển vọng ở Việt Nam. Theo kinh nghiệm lịch sử của Trung Quốc, Việt Nam hiện đang trong thời kỳ kinh tế phát triển, và công nghiệp hóa chứa đựng những cơ hội to lớn để tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập và tăng tốc đô thị hóa. Dân số Việt Nam gần 100 triệu người và tổng thị trường tiêu dùng rất lớn; GDP bình quân đầu người tương đương với mức năm 2006 của Trung Quốc và thu nhập tăng lên thúc đẩy tiêu dùng nâng cấp; tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam chỉ là 36,6%, vẫn còn nhiều khả năng cải thiện so với các nước có thu nhập trung bình khác.

Bố cục đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Từ năm 2010 đến 2019, tổng vốn đầu tư của Hàn Quốc là 32,7 USD, tiếp theo là Nhật Bản, Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) và Singapore với lần lượt là 28,5 tỷ USD, 24 tỷ USD và 21,5 tỷ USD. Logic vĩ mô của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chính là việc thực hiện tái cơ cấu chuỗi công nghiệp và phát triển thị trường nội địa, nhưng ngoài Singapore là trung tâm trung chuyển FDI ra, những cân nhắc đằng sau việc đầu tư vào Việt Nam không hoàn toàn giống nhau giữa các nước.

Mô hình đầu tư nước ngoài của Nhật Bản: Do chính phủ lãnh đạo + theo dõi công ty, có mục đích kinh tế và ngoại giao mạnh mẽ. Mô hình điển hình là Chính phủ Nhật Bản cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) thông qua Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), cấp các khoản vay phát triển đặc khu kinh tế cho nước sở tại, tài trợ và cho vay xây dựng cơ sở hạ tầng cầu đường, thu hút các công ty Nhật Bản vào xây dựng khu công nghiệp. Nhật Bản hy vọng sẽ thúc đẩy quan hệ kinh tế và thương mại với nước sở tại theo cách này, và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp theo đầu tư. Trong số các nước Đông Nam Á, Nhật Bản rất coi trọng Việt Nam. Theo JICA, Nhật Bản là quốc gia có nguồn ODA và đầu tư cơ sở hạ tầng lớn nhất của Việt Nam. Tính đến tháng 6 năm 2019, đầu tư của Nhật Bản vào cơ sở hạ tầng ở Việt Nam đạt 208,7 tỷ đô la Mỹ, gấp đôi so với Trung Quốc và chiếm một nửa đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhật Bản ở Đông Nam Á. Các công ty Nhật Bản tại Việt Nam vừa phát triển thị trường nội địa vừa tìm cách bố trí chuỗi công nghiệp. Các công ty Nhật Bản ra nước ngoài quan tâm nhiều hơn đến thị trường địa phương của nước sở tại và sự tham gia của họ vào nền kinh tế Việt Nam thường sâu hơn. 

Mô hình đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc: Dịch chuyển giao công nghiệp do các công ty lớn dẫn đầu. Không giống như Nhật Bản, đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam là đầu tư tìm kiếm hiệu quả do các công ty lớn dẫn đầu, nhằm phục vụ thị trường tiêu dùng toàn cầu thông qua bố cục chuỗi công nghiệp được tối ưu hóa. Ngoài ra, không giống như cách tiếp cận theo hướng kép của Nhật Bản đối với lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất, phần lớn đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam xoay quanh ngành công nghiệp điện tử. Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam có liên quan mật thiết đến việc bố trí công ty khổng lồ Samsung của nước này. Samsung không chỉ là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam mà còn là doanh nghiệp đơn lẻ có đóng góp lớn nhất cho nền kinh tế Việt Nam. Theo Nikkei, đóng góp của Samsung vào xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn một phần tư. 

Mô hình đầu tư nước ngoài của EU: Đẩy nhanh đầu tư vào Việt Nam với hiệp định thương mại tự do. Việc EU bố trí tại Việt Nam có những cân nhắc chiến lược nhất định. Trên thực tế, EU và Việt Nam không phải là những đối tác thương mại gần gũi về truyền thống do khoảng cách xa và sự khác biệt quá lớn về quy mô kinh tế. Việt Nam chỉ là đối tác thương mại lớn thứ 17 của EU, và đối với ngoại thương của Việt Nam, EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 và thị trường nhập khẩu lớn thứ 6. Các quy tắc xuất xứ cực kỳ chi tiết của EVFTA đã định hình lại chuỗi công nghiệp khu vực, đặc biệt là giảm sự phụ thuộc vào chuỗi công nghiệp Trung Quốc. EVFTA sẽ tác động đến ba loại ngành. Một là các ngành công nghiệp có lợi thế của Liên minh Châu Âu, chẳng hạn như máy móc và ô tô. Thứ hai là các ngành mà EU phụ thuộc nhiều vào các quốc gia riêng lẻ và cần đa dạng hóa chuỗi cung ứng, chẳng hạn như thuốc và thiết bị y tế. Thứ ba là EU là thị trường tiêu thụ quan trọng của các ngành như dệt may và điện tử. 

Mô hình đầu tư nước ngoài của Trung Quốc: Di dời công nghiệp do các doanh nghiệp vừa và nhỏ dẫn đầu. Lịch sử đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam có thể được chia thành ba giai đoạn. Trước năm 2006, quy mô đầu tư hầu như không đáng kể; từ năm 2006 đến năm 2017, đầu tư ra nước ngoài của các công ty Trung Quốc tăng lên, Việt Nam gia nhập WTO và chi phí gia tăng của các yếu tố Trung Quốc gây ra áp lực di dời công nghiệp của Việt Nam. Việc Việt Nam bắt đầu hình thành sự hấp thụ vốn nước ngoài của Trung Quốc (dựa trên vốn đăng ký). Quy mô đạt 3,7 tỷ đô la Mỹ năm 2017; sau năm 2017, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tăng mạnh, năm 2019, Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông, Trung Quốc) đã vượt qua Nhật Bản và Hàn Quốc, trở thành nguồn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với số vốn đăng ký 12,3 tỷ đô la Mỹ. .

Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam hiện đang là đầu tư tìm kiếm hiệu quả do các doanh nghiệp vừa và nhỏ dẫn đầu. Thứ nhất, đầu tư tự phát của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm ưu thế. Chúng tôi đã so sánh số liệu thống kê chính thức của Việt Nam với FDI của Trung Quốc vào Việt Nam do Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) theo dõi. Số liệu thống kê này chủ yếu theo dõi các khoản đầu tư nước ngoài quy mô lớn của Trung Quốc với quy mô hơn 100 triệu đô la Mỹ với các báo cáo công khai. Chúng tôi nhận thấy rằng trong số các khoản đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào các quốc gia khác nhau theo quy mô AEI vào năm 2019, Việt Nam đứng thứ 23 trong số tất cả các quốc gia với chỉ 2,69 tỷ đô la Mỹ. Đồng thời, khoảng cách về số liệu giữa quy mô AEI và quy mô chính thức của Việt Nam tiếp tục được nới rộng. Điều này có thể cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam chủ yếu là đầu tư tư nhân dưới 100 triệu USD, chủ yếu đến từ ngành dệt may với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ; trên thực tế, dự án sản xuất duy nhất có giá trị hợp đồng trên 100 triệu USD trong ba năm qua là năm 2017. Guizhou Tire, Minmetals năm 2018 và Goertek năm 2019 trái ngược hẳn với những gã khổng lồ sản xuất của Nhật Bản và Hàn Quốc như Toyota, Panasonic, Samsung và LG, những công ty thống trị chuỗi công nghiệp của họ tại Việt Nam.

Thứ hai, cân nhắc chính để đầu tư vào Việt Nam là chuyển giao công nghiệp thụ động trong bối cảnh thay đổi bên trong và bên ngoài. Chúng tôi nhận thấy rằng từ năm 2015 đến năm 2017, Mỹ chỉ giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như quần áo, giày dép và hành lý. Tuy nhiên, từ năm 2017 đến năm 2019, thị phần nhập khẩu của Trung Quốc của Mỹ đã giảm trên diện rộng và thị phần của họ bị mất vào tay các nước Đông Nam Á. Điều này cho thấy, trước năm 2017, các công ty chuyển đến Việt Nam chủ yếu do chi phí nhân công và đất đai ở Trung Quốc tăng cao, sau năm 2017, họ chuyển sang Việt Nam để tránh bị áp thuế cao do chiến tranh thương mại Trung - Mỹ.

Thứ ba, đầu tư vào ngành sản xuất của Việt Nam tập trung vào lĩnh vực điện và cơ sở hạ tầng đã trở thành một bất cập. Trong số 26,9 tỷ USD đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam mà AEI ước tính, năng lượng chiếm 17,5 tỷ (65%), và đầu tư năng lượng gần như hoàn toàn vào các dự án phát điện. Sự thiếu hụt điện của Việt Nam, Bộ Công Thương chỉ ra rằng đất nước sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu điện 6,6 tỷ kilowatt giờ vào năm 2021, điều này sẽ tiếp tục mở rộng trong tương lai. Đây là lý do tại sao các công ty Trung Quốc đã đầu tư vào các nhà máy điện tại Việt Nam. Trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng khác như đường cao tốc, bất chấp sự quan tâm mạnh mẽ của các công ty Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam tỏ ra thận trọng trong việc đối phó với nền kinh tế và thương mại của Trung Quốc, và sự gia tăng chậm trễ, vượt cấp và các vấn đề chất lượng xây dựng nghiêm trọng của các công ty Trung Quốc thường khiến Việt Nam nản lòng. Năm 2019, Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam đã hủy đấu thầu quốc tế 8 đoạn đường cao tốc Bắc - Nam, thay vào đó mời các công ty trong nước Việt Nam đấu thầu với mức thấp hơn, việc không tin tưởng các công ty Trung Quốc được coi là một trong những nguyên nhân quan trọng.

Trung Quốc nắm bắt cơ hội ở Việt Nam như thế nào?

Tóm lại, một lượng lớn vốn nước ngoài vào Việt Nam sẽ cùng tồn tại hợp tác và cạnh tranh. Một mặt, xét thấy chuỗi công nghiệp địa phương của Việt Nam ngày càng dày đặc và bao trùm các ngành ngày càng phong phú, các chuỗi công nghiệp có lợi thế của các quốc gia khác nhau có thể hội tụ tại Việt Nam để tạo thành các cụm công nghiệp Samsung của Việt Nam là một ví dụ. Mặt khác, các mục tiêu ngoại giao và kinh tế của các quốc gia khác nhau và mục tiêu phát triển kinh doanh của các công ty khác nhau đều tập trung trên mảnh đất 330.000 km vuông của Việt Nam, điều này chắc chắn sẽ gây ra cạnh tranh và xung đột. Về cơ sở hạ tầng, Nhật Bản và Trung Quốc đã trở thành đối thủ đấu thầu trong nhiều dự án xây dựng ở Đông Nam Á. Trong sản xuất, các công ty ngang hàng ở các quốc gia khác nhau có thể cạnh tranh cho cùng một nhà máy hoặc tìm cách thiết lập một chuỗi công nghiệp độc quyền. Cạnh tranh gay gắt có thể dẫn đến việc tăng nhanh chi phí sản xuất tại Việt Nam và việc chấp thuận đầu tư của Chính phủ Việt Nam cũng sẽ quan trọng hơn, đặt ra các yêu cầu cao hơn đối với ngành, lợi ích và tác động môi trường của dự án.

Để nắm bắt cơ hội đầu tư vào Việt Nam, Trung Quốc có thể bắt đầu từ ba hướng sau:

Thứ nhất, tận dụng lợi thế của thuế quan thấp của Việt Nam và phát triển đầu tư theo định hướng xuất khẩu sang Châu Âu và Mỹ. Trước khi chiến tranh thương mại bùng nổ, Mỹ và Liên minh Châu Âu là hai điểm đến xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam. Việc ký kết chiến tranh thương mại Trung - Mỹ và hiệp định đầu tư EU-Việt Nam đã mở rộng đáng kể lợi thế thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ và Châu Âu, tương ứng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc và các nước ASEAN khác không có lợi thế thuế quan đáng kể. Xét đến mức lương tối thiểu ở Việt Nam tăng trung bình 8,8% từ năm 2015 đến năm 2019, tiền lương ở các thành phố hạng nhất (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) đã tăng với tốc độ cao hơn và lợi ích kinh tế của việc phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động có giá trị gia tăng thấp đã yếu đi. Theo xu hướng và đầu tư vào Việt Nam. Đối với các sản phẩm bán cho các khu vực ngoài EU, có thể giữ nguyên sản xuất trong nước hoặc chuyển sang Campuchia, Philippines và các nước khác.

Thứ hai, các chuỗi công nghiệp hiện có của Trung Quốc và Việt Nam có tính bổ sung cao và các công ty đầu tư vào Việt Nam nên tập trung vào tính toàn vẹn của chuỗi công nghiệp và lợi thế kỹ thuật số. Trước hết, ngành công nghiệp chế tạo của Việt Nam tập trung vào gia công hoặc lắp ráp hạ nguồn trong dệt may, điện tử, máy móc và các lĩnh vực khác, nhưng trung và thượng lưu có những bất cập rõ ràng là dựa vào nhập khẩu. Lợi thế của ngành sản xuất Trung Quốc nằm ở các danh mục ngành hoàn chỉnh, kinh nghiệm dày dặn trong các ngành công nghiệp hỗ trợ và hiệu suất chi phí cao. Trước sức ép tăng cường sản xuất nội địa hóa tại Việt Nam, các doanh nghiệp do Trung Quốc tài trợ có thể mong muốn đón đầu xu hướng và tận dụng kinh nghiệm phong phú trong việc hỗ trợ chuỗi công nghiệp để đầu tư vào bố trí của các doanh nghiệp lớn. Thứ hai, nền kinh tế kỹ thuật số của Việt Nam có tiềm năng lớn, nhưng khả năng cung cấp trong nước không đủ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp do Trung Quốc tài trợ tiếp tục được cải thiện, đặc biệt là trong các lĩnh vực như AI và kỹ thuật số, vốn đã dẫn đầu Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các doanh nghiệp Trung Quốc có thể xem xét liên doanh với các công ty Việt Nam để phát triển kỹ thuật số địa phương, tiếp thị, khám phá các cơ hội cho tiêu dùng kỹ thuật số, công nghệ tài chính và số hóa công nghiệp.

Thứ ba, ký kết các hiệp định thương mại và đầu tư tự do song phương cấp độ cao hơn để giảm rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam và cung cấp các dịch vụ tiện lợi cho các công ty đầu tư vào Việt Nam. Một mặt, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu và Việt Nam đã ký kết các hiệp định thương mại tự do và hiệp định đầu tư riêng biệt, và Hàn Quốc ký hiệp định thương mại tự do với Việt Nam, điều này không chỉ giảm rủi ro cho các công ty liên quan đầu tư vào Việt Nam mà còn giúp được hưởng nhiều ưu đãi hơn. Ngược lại, Trung Quốc và Việt Nam vẫn thiếu các hiệp định thương mại và đầu tư song phương cấp cao, hai bên chủ yếu thực hiện trao đổi kinh tế thương mại trong khuôn khổ Khu vực thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN ra đời năm 2010. Mặt khác, có thể học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam. Ví dụ, các khu công nghiệp của Nhật Bản tại Việt Nam không chỉ được hưởng ưu đãi thuế, cung cấp các dịch vụ cơ bản như điện nước mà còn thuê nhân tài chuyên nghiệp để tư vấn chính sách, xử lý giấy phép lao động, quản lý hành chính, khai báo hải quan và dịch vụ giới thiệu cho thuê cho các doanh nghiệp định cư. Việc đầu tư, vận hành và tiếp thị của doanh nghiệp đem lại sự thuận tiện lớn. Trong bối cảnh Việt Nam đang mở cửa mạnh mẽ nhưng môi trường kinh doanh còn non nớt, các cấp chính phủ có thể hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp đang phát triển tại Việt Nam./.

 

Sở Ngoại vụ tổng hợp tin các báo

 

Tin liên quan
Hiệp định RCEP mở ra cơ hội nào cho đồ điện tử gia dụng Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam    23/11/2020
Những quan điểm khác nhau của Châu Âu trong quan hệ với Hoa Kỳ sau bầu cử    20/11/2020
Dự báo về 8 thay đổi trong chính sách quân sự Mỹ sau khi ông Biden lên cầm quyền    19/11/2020
WHO kêu gọi các nước xem kiến tạo hòa bình và ngăn chặn Covid-19 là hai phạm trù không thể tách rời    19/11/2020
Nhiều mặt hàng nông sản đạt giá trị xuất khẩu cao dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19    19/11/2020
Tổng hợp ý kiến các nước về Hội nghị Cấp cao Đông Á và các Hội nghị liên quan    19/11/2020
RCEP và vai trò đi đầu của ASEAN trong việc củng cố hệ thống thương mại đa phương    19/11/2020
Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 17/11/2020)    18/11/2020
Hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông lần thứ 12 tại Hà Nội    16/11/2020
Hội nghị Cấp cao ASEAN 37: Tín hiệu tích cực về vấn đề Biển Đông và Covid-19    16/11/2020

Liên kết Liên kết

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

  Đang truy cập : 1
  Hôm nay: 268
  Tổng lượt truy cập: 108323