Truy cập nội dung luôn

Chi tiết tin

IMF đưa ra triển vọng về kinh tế thế giới năm 2020 - 2021

Ngày 13/10, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố báo cáo mới về Triển vọng Kinh tế thế giới, đưa ra dự báo lạc quan hơn về kinh tế toàn cầu trong năm 2020, nhưng vẫn cảnh báo vể "sự hồi phục lâu dài, không đồng đều và không chắc chắn". Cụ thể, IMF dự báo kinh tế toàn cầu sẽ giảm 4,4% trong năm 2020, cải thiện so với dự báo giảm 4,9% đưa ra vào tháng 6. Chuyên gia kinh tế trưởng của IMF Gita Gopinath cho biết tình trạng "đỡ nghiêm trọng hơn" nhưng kinh tế thế giới vẫn sụt giảm sâu trong năm 2020; dự báo khả quan hơn là do sự tăng trưởng tốt hơn trông đợi ở các nền kinh tế phát triển và tại Trung Quốc trong Quý II và dấu hiệu hồi phục nhanh hơn trong Quý III.

Người phát ngôn Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Gerry Rice nhận định triển vọng kinh tế toàn cầu ít u ám hơn so với dự báo đưa ra 3 tháng trước. Ảnh: IMF.

IMF cảnh báo về tình trạng dịch bệnh vẫn tiếp diễn và giảm dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu cho năm 2021 xuống mức 5,2% so với 5,4% trong dự báo trước đó. IMF nhận định với tình trạng dịch bệnh tăng trở lại ở một số nơi nới lỏng giãn cách xã hội và mở cửa trở lại khiến cho con đường quay trở lại mức trước đại dịch trở nên khó khăn, đặc biệt là ở các nước Châu Âu.  IMF khuyến nghị các Chính phủ cần duy trì các chính sách hỗ trợ ở mức độ nhất định nhằm ngăn đà gia tăng khoảng cách thu nhập dù mức nợ công tăng tăng cao. Nợ công của các nền kinh tế phát triển ước tính sẽ đạt 125% GDP vào cuối năm 2021 và khoảng 65% GDP ở các nền kinh tế mới nổi. Tuy nhiên, IMF không quá lo ngại về tình trạng gia tăng nợ công do hiện lãi suất đang ở mức thấp và sự phục hồi kinh tế trong năm 2021 sẽ giúp các nước trả nợ; cho rằng "để bảo đảm sự tăng trưởng bền vững trong trung hạn các chính phủ có thể tăng thuế và bảo đảm rằng các công ty trả mức thuế hợp lý trong khi giảm chi tiêu lãng phí".

IMF dự báo năm 2020: Trung Quốc tăng trưởng 1,9%; Mỹ mặc dù dịch bệnh vẫn lan rộng, nhưng dường như đang hoạt động tốt về tài chính, mức giảm GDP là 4,3%; khu vực đồng Euro tồi tệ hơn, GDP giảm 8,3%; những nước bị tác động nặng nề (Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Anh), GDP giảm 10% trong khi dịch bệnh còn lâu mới kiểm soát được.

Về khu vực Mỹ La-tinh, Báo cáo chỉ ra rằng Mỹ La-tinh và Caribe sẽ là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới do tác động kinh tế vì Covid-19 với mức sụt giảm kinh tế 8,1% trong năm 2020, ít hơn 1,1% so với dự báo của tổ chức này vào tháng 6 (9,2%). Tuy nhiên mức sụt giảm năm 2020 sẽ vượt xa mức giảm 2,5% của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài năm 1983 và 1,9% của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998. Đến năm 2021, IMF kỳ vọng kinh tế của khu vực sẽ tăng trưởng ít nhất 3,6% do sự phục hồi của hai đối tác thương mại chính là Mỹ, Trung Quốc và khả năng kiểm soát khủng hoảng y tế và rủi ro xã hội của các Chính phủ. Tuy nhiên các quốc gia nhỏ và có nền kinh tế phụ thuộc vào nguyên liệu thô và du lịch sẽ có thể khó khăn hơn trong việc hồi phục. Báo cáo nhấn mạnh rằng Trung Quốc - quốc gia nhập khẩu và tiêu thụ nguyên liệu thô chính của khu vực - đang chuẩn bị nối lại nhu cầu giao dịch. Brazil, Peru, Chile và ở một mức độ nào đó là Mexico, là các quốc gia sẽ được hưởng lợi.

Trong năm 2020, hai nền kinh tế lớn nhất trong khu vực là Brazil và Mexico sẽ giảm lần lượt 5,8% và 9% và sẽ tăng trưởng trở lại ở mức 2,8% và 3,5% trong năm 2021. Đối với Argentina, quốc gia đã lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính kể từ năm 2018 cho đến nay do đồng Peso mất giá và đại dịch Covid-19, IMF đang đàm phán lại khoản vay lớn nhất trong lịch sử trị giá 57 tỷ USD, trong đó 44 tỷ USD đã được giải ngân, kinh tế Argentina sẽ giảm 11,8% trong năm 2020 và phục hồi tăng 4,9 % vào năm 2021.

Các nền kinh tế lớn khác là Chile và Colombia có mức giảm lần lượt là 6% và 8,2%. Paraguay và Uruguay là 02 quốc gia ít chịu ảnh hưởng nhất, với mức giảm lần lượt là 4 và 4,5%. Ở chiều ngược lại, Peru và Venezuela là 02 quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất với mức giảm lần lượt là 13,9% và 25%.

Đối với các quốc gia Trung Mỹ và Caribe, IMF dự báo mức suy thoái kinh tế 5,9% trong năm 2020 và phục hồi tăng 3,6% vào năm 2021.

Bên cạnh đó, IMF cho rằng các căng thẳng địa chính trị, rào cản thương mại và thiên tai, những thay đổi về điều kiện cấp vốn và dịch bệnh kéo dài vẫn là những rủi ro tiềm tàng được tính đến trong dự báo. IMF cũng dự báo, đại dịch sẽ gia tăng tình trạng nghèo cùng cực trên thế giới lần đầu tiên sau 2 thập kỷ, đồng thời gia tăng bất bình đẳng. Một thách thức trung hạn là nợ chính phủ của nhiều nước sẽ gia tăng, mặc dù triển vọng dài hạn về lãi suất thấp và sự phục hồi vào năm 2021 sẽ giúp quản lý gánh nặng nợ. Để đảm bảo nợ chính phủ trung ương duy trì ở mức bền vững trong trung hạn, các quốc gia có thể cần phải thực hiện thuế lũy tiến hơn, tăng thuế doanh nghiệp và loại bỏ chi tiêu lãng phí.

Trong một diễn biến khác, theo Phó Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Richard Clarida nhận định nền kinh tế Mỹ cần thêm 1 năm hoặc hơn để có thể quay trở lại mức trước đại dịch; cho rằng các động thái chính sách của FED và Quốc hội đã hỗ trợ kích thích tăng trưởng qua các hoạt động như mua nhà, mua xe, đầu tư vào các thiết bị và phần mềm.

Ông nói: "Đại dịch Covid-19 đã đẩy nền kinh tế rơi xuống một cái hố rất sâu và sẽ cần có thời gian, có thể là một năm, để GDP có thể phục hồi hoàn toàn và quay trở lại đỉnh cao của năm 2019" và "thậm chí sẽ cần thời gian lâu hơn nữa để tỷ lệ thất nghiệp quy trở lại mức hài hòa với nhu cầu lao động tối đa". Phát biểu của ông Clirida được đưa ra trước thềm báo cáo GDP Quý III. Theo UBS ước tính, hoạt động của nền kinh tế hiện ở mức 80% của cùng kỳ năm 2019 và mặc dù đã có 11,4 triệu việc làm được tạo trở lại kể từ giai đoạn đóng cửa tháng 3 - 4, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ vẫn ở mức 7,9% trong tháng 9.

Ông Clarida cũng nhận định "sự hồi phục đến nay là tương đối tốt, nhưng chặng đường sẽ còn khó khăn, không chỉ với Mỹ mà là với cả thế giới".  Ông hy vọng cách tiếp cận mới của FED vể lạm phát sẽ giúp cải thiện bức tranh việc làm. Theo đó, FED sẽ không tăng lãi suất một cách vội vã khi tỷ lệ thất nghiệp giảm. Trước đây, FED thường coi tỷ lệ thất nghiệp giảm như một chỉ dấu về lạm phát nhưng cách tiếp cận mới cho phép tỷ lệ lạm phát vượt quá ngưỡng truyền thống 2% trong một thời gian đủ dài để bảo đảm mức lạm phát trung bình vẫn ở mức đó trong một giai đoạn cụ thể. Thay đổi này đồng nghĩa với việc chỉ riêng tỷ lệ thất nghiệp thấp sẽ không phải là điều kiện đủ để thắt chặt chính sách tiền tệ nếu không có thêm chỉ số khác cho thấy lạm phát có nguy cơ vượt mức trần cho phép. Khuôn khổ chính sách mới này vừa thể hiện sự tiến hóa lớn trong tư duy chiến lược chính sách tiền tệ, đồng thời cũng phục vụ mục tiêu kép mà Quốc hội đề ra - tối đa hóa việc làm và ổn định giá cả - và mục tiêu này là không thay đổi.

Ông Clarida cũng cho rằng hoạt động kinh tế đang tiếp tục cải thiện dần sau sự phục hồi mạnh trong quý III, tuy nhiên, triển vọng là "rất không chắc chắn" do tình trạng dịch bệnh vẫn đang tiếp diễn./.

 

Sở Ngoại vụ tổng hợp tin các báo

 

Tin liên quan
Hiệp định RCEP mở ra cơ hội nào cho đồ điện tử gia dụng Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam    23/11/2020
Những quan điểm khác nhau của Châu Âu trong quan hệ với Hoa Kỳ sau bầu cử    20/11/2020
Dự báo về 8 thay đổi trong chính sách quân sự Mỹ sau khi ông Biden lên cầm quyền    19/11/2020
WHO kêu gọi các nước xem kiến tạo hòa bình và ngăn chặn Covid-19 là hai phạm trù không thể tách rời    19/11/2020
Nhiều mặt hàng nông sản đạt giá trị xuất khẩu cao dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19    19/11/2020
Tổng hợp ý kiến các nước về Hội nghị Cấp cao Đông Á và các Hội nghị liên quan    19/11/2020
RCEP và vai trò đi đầu của ASEAN trong việc củng cố hệ thống thương mại đa phương    19/11/2020
Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 17/11/2020)    18/11/2020
Hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông lần thứ 12 tại Hà Nội    16/11/2020
Hội nghị Cấp cao ASEAN 37: Tín hiệu tích cực về vấn đề Biển Đông và Covid-19    16/11/2020

Liên kết Liên kết

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

  Đang truy cập : 1
  Hôm nay: 267
  Tổng lượt truy cập: 108322