Truy cập nội dung luôn

Chi tiết tin

Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 20/10/2020)

VỤ TỔNG HỢP KINH TẾ

-----------

BẢN TIN NGOẠI GIAO KINH TẾ
(Thứ Ba, ngày 20/10/2020)

***

Tin vắn

  • Nhu cầu năng lượng thế giới chỉ phục hồi hoàn toàn vào 2025
  • IMF giảm dự báo GDP toàn cầu năm 2021 xuống 5,2% so với 5,4% trước đây
  • Trump dọa đáp trả nếu EU áp thuế đối với hàng hóa của Mỹ
  • GDP Trung Quốc tăng trưởng 4,9% trong quý 3/2020 so với cùng kỳ năm ngoái
  • Pháp và Hà Lan kêu gọi EU hạn chế quyền lực của các "ông lớn" công nghệ Mỹ
  • Nhật xem xét gói ngân sách bổ sung thứ ba nhằm phục hồi nền kinh tế hậu Covid
  • Hàn Quốc ban hành chính sách bắt buộc để thúc đẩy sử dụng pin nhiên liệu hydro
  • Nợ nước ngoài của Indonesia đã tăng hơn gấp đôi sau một thập kỷ, từ 179,4 tỉ USD năm 2009 lên 402,08 tỉ năm 2019.

Bài phân tích/Tin chuyên sâu: Châu Á sẽ được lợi từ "Bidenomics"

A. KINH TẾ THẾ GIỚI

  • Ngày 13/10, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết sự phục hồi kinh tế chậm chạp sau đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 sẽ đẩy lùi thời điểm nhu cầu năng lượng thế giới phục hồi hoàn toàn vào năm 2025. Theo kịch bản cơ sở, kinh tế toàn cầu phục hồi vào năm 2021 và nhu cầu năng lượng thế giới phục hồi hoàn toàn vào năm 2023 khi thế giới phát triển được một loại vắcxin và phương pháp điều trị COVID-19. Tuy nhiên, trong kịch bản sự phục hồi bị trì trệ, kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi vào năm 2023 và nhu cầu năng lượng thế giới sẽ phục hồi hoàn toàn vào năm 2025. IEA nhận thấy nhu cầu năng lượng thế giới giảm khoảng 5% trong năm 2020, lượng khí thải CO2 sinh ra từ năng lượng giảm khoảng 7% và đầu tư vào năng lượng giảm khoảng 18%. Nhu cầu dầu dự kiến sẽ giảm 8% và tiêu thụ than đã giảm khoảng 7%, còn năng lượng tái tạo dự kiến tăng nhẹ (Báo Đầu tư, 14/10)
  • Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày 13/10 công bố báo cáo mới về Triển vọng Kinh tế Thế giới, đưa ra dự báo lạc quan hơn về kinh tế toàn cầu trong năm 2020 do sự tăng trưởng tốt hơn mong đợi ở các nền kinh tế phát triển và Trung Quốc trong quý II và dấu hiệu hồi phục nhanh hơn trong quý III nhưng vẫn cảnh báo về sự phục hồi lâu dài, không đồng đều và không chắc chắn. IMF giảm dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu cho năm 2021 xuống mức 5,2% so với 5,4% trong dự báo trước đó; đánh giá căng thẳng địa chính trị, rào cản thương mại, thiên tai, dịch bênh kéo dài và thay đổi về điều kiện cấp vốn vẫn là những rủi ro tiềm tàng. IMF cũng khuyến nghị các chính phủ cần duy trì các chính sách hỗ trợ nhằm ngăn đà gia tăng khoảng cách thu nhập dù nợ công cao, ước tính đạt 125% GDP ở các nền kinh tế phát triển và chiếm khoảng 65% GDP ở các nền kinh tế mới nổi (ĐSQ Việt Nam tại Mỹ, 14/10).

1. Mỹ

  • Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin ngày 14/10 kêu gọi Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới cần sử dụng nguồn lực hiện có một cách sáng suốt, thận trọng và minh bạch trong việc cung cấp tài chính, tư vấn và phát triển năng lực cho các quốc gia bị tổn thương bởi đại dịch Covid-19 và phải có kế hoạch trước cho việc quay trở lại các hoạt động tài chính như thường lệ trước dịch, tránh tạo gánh nặng và đặt các quốc gia cổ đông vào tình thế bị động. Bộ trưởng Mnuchin cũng hối thúc các nước G20 nhanh chóng tán thành một khuôn khổ tái cơ cấu nợ mới để giúp các nước thu nhập thấp cơ cấu lại các khoản nợ, cung cấp giải pháp giảm nợ dựa trên các thông số chung, và chia sẻ gánh nặng một cách công bằng giữa tất cả các chủ nợ trên cả bình diện song phương chính thức và tư nhân (Reuters, 15/10).
  •  Trong nỗ lực đạt thỏa thuận với Hạ viện về gói kích cầu kinh tế ứng phó với dịch Covid-19, Tổng thống Donald Trump ngày 15/10 tuyên bố sẽ cân nhắc gói hỗ trợ lớn hơn mức 1,8 nghìn tỷ đôla mà Nhà Trắng đã đưa ra trước đây. Hạ viện do Đảng Dân chủ cầm quyền đang cố gắng yêu cầu Nhà Trắng cung cấp gói kích cầu trị giá 2,2 tỷ đôla. Trả lời phỏng vấn với Fox Business Network, Tổng thống Trump cho biết có khả năng gói hỗ trợ trên được thông qua trước bầu cử tổng thống ngày 3/11 cho dù hy vọng về một thỏa thuận giữa Nhà Trắng và Hạ viện không còn cao (Reuters, 15/10).
  • Tổng thống Donald Trump ngày 15/10 tuyên bố sẽ có động thái đáp trả nếu Liên minh châu Âu (EU) triển khai áp thuế đối với hàng hóa của Mỹ. EU giành được quyền áp đặt các biện pháp thuế quan lên khoảng 4 tỷ đôla hàng hóa và dịch vụ của Mỹ theo phán quyết ngày 13/10 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đây là diễn biến mới nhất trong tranh chấp pháp lý kéo dài 16 năm giữa hai bên về vấn đề hỗ trợ các nhà sản xuất máy bay Boeing và Airbus. Năm 2019, WTO đã cho phép Mỹ áp đặt trừng phạt lên 7,5 tỷ USD hàng hóa và dịch vụ của châu Âu sau khi tổ chức này đánh giá khoản viện trợ của EU dành cho Airbus là không phù hợp với các quy định thương mại quốc tế (Reuters, 15/10).

2. Trung Quốc

  • Các kết quả thống kê chính thức gần đây cho thấy kinh tế Trung Quốc tiếp tục phục hồi sau Covid-19. Nền kinh tế thứ hai thế giới đã tăng trưởng 4,9% trong quý 3/2020 so với cùng kỳ năm ngoái, tuy nhiên con số này thấp hơn dự kiến 5,2% của các nhà kinh tế. Đây là sự phục hồi đáng kể nếu so với mức suy giảm 6,8% trong quý 1, khi nước này buộc phải phong tỏa toàn quốc và đóng cửa các cơ sở sản xuất. Đó là lần đầu tiên kinh tế Trung Quốc suy giảm kể từ khi bắt đầu thống kê theo quý vào năm 1992. Mặc dù vậy, các chuyên gia vẫn ít nhiều hoài nghi về độ chính xác của những dữ liệu này. Các thống kê thương mại tháng 9 cũng cho thấy xuất khẩu của nước này đã tăng 9,9% và nhập khẩu là 13,2% so với cùng kỳ năm ngoái BBC ngày 20/10.
  • Những nỗ lực muộn màng để tự chủ về nguồn cung bộ vi xử lý trong 10 năm tới của Trung Quốc đã bị các lệnh cấm vận của Mỹ giáng một đòn nặng. Trung Quốc hiện chỉ sản xuất 16% lượng chip cần thiết cho nhu cầu trong nước. Mục tiêu của nước này là đáp ứng được 70% nhu cầu vào năm 2025. Tuy nhiên các chuyên gia nhận định điều này khó xảy ra khi Mỹ hạn chế việc bán các linh kiện và công nghệ chủ chốt cho Trung Quốc. Sau khi áp đặt cấm vận với Huawei hồi cuối năm ngoái, tháng 9 vừa qua nước này đã mở rộng lệnh cấm sang SMIC. Giới chuyên gia dự báo các đại gia công nghệ Mỹ như Cisco, Dell hay HP sẽ là đối tượng trả đũa của Bắc Kinh. Căng thẳng leo thang sẽ tác động tiêu cực đến không ít cổ phiếu công nghệ trên thị trường. Investor.com ngày 16/10.

3. Châu Âu

  • Ngày 15/10, Pháp và Hà Lan cùng kêu gọi các nhà quản lý của Liên minh châu Âu (EU) hạn chế quyền lực của những "người khổng lồ" công nghệ của Mỹ như Google và Facebook, thậm chí là phân tách hoạt động của những công ty này nếu cần. Bộ trưởng Kỹ thuật số hai nước cho biết Brussels nên tăng cường quản lý các nền tảng kỹ thuật số quá lớn mạnh khi các công ty như Amazon và Apple đang có sức ảnh hưởng to lớn đối với những công ty muốn tiếp cận người tiêu dùng thông qua các nền tảng của họ. Lời kêu gọi của Pháp và Hà Lan được đưa ra khi Ủy ban Châu Âu dự kiến sẽ công bố Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số mới vào cuối năm nay để điều chỉnh hoạt động của các công ty công nghệ như Google, Amazon, Facebook và Apple (AFP, 15/10).
  • Ngày 16/10, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô châu Âu (ACEA) cho biết số lượng ô tô mới đăng ký tại EU trong tháng 9/2020 đã tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, lên mức 933.987 xe, mức tăng đầu tiên về doanh số kể từ đầu năm 2020 nhờ đà phục hồi tại Đức và I-ta-li-a. Cụ thể, số ô tô mới đăng ký tại I-ta-li-a tăng 9,5%, tại Đức tăng 8,4%, nhưng số liệu tương ứng của Pháp và Tây Ban Nha lại giảm lần lượt là 3% và 13,5%. Trước đó, doanh số ô tô tại EU trong tháng 3/2020 đã giảm 55,1% và sau đó giảm tới 76,3% vào tháng 4/2020 do các quốc gia thực hiện lệnh phong tỏa nhằm ngăn chặn dịch Covid-19 lây lan. Trong 9 tháng đầu năm 2020, lượng đăng ký xe tại EU đã giảm gần 29% so với cùng kỳ năm trước. Hiệp hội ACEA dự đoán thị trường kinh doanh ô tô sẽ sụt giảm khoảng 25% trong cả năm 2020 (TTXVN, 16/10).
  • Bộ trưởng Tài chính Pháp Bruno Le Maire cho biết chính phủ nước này sẽ hỗ trợ thêm 1 tỷ euro (1,17 tỷ USD) cho các doanh nghiệp nước này bị ảnh hưởng bởi lệnh giới nghiêm ban đêm ở Paris và tám thành phố lớn khác, giữa lúc đại dịch Covid-19 đang lây lan khắp nơi. Bộ trưởng cho biết các công ty trong lĩnh vực khách sạn sẽ được miễn các khoản phí xã hội nếu doanh thu của họ giảm hơn 50% do tác động của lệnh giới nghiêm; đồng thời, các ngân hàng cũng được yêu cầu hoãn việc thu lãi đối với các khoản vay được nhà nước bảo lãnh cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng và tổ chức sự kiện (Reuters, 16/10).
  • Là một phần trong mục tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính của EU xuống bằng 0 vào năm 2050, Ủy ban châu Âu (EC) đang dự thảo kế hoạch đánh thuế carbon đối với hàng hóa nhập khẩu gây ô nhiễm đối với hàng hóa đến 27 quốc gia trong khối. Trước mắt loại thuế này sẽ áp dụng đối với thép, xi măng, điện và sau đó có thể mở rộng sang nhiều lĩnh vực hơn. Chính sách mà EC đề xuất vào mùa Hè tới trên nhằm bảo vệ ngành công nghiệp của EU trước hàng nhập khẩu có giá rẻ hơn từ các nước có chính sách về môi trường ít nghiêm ngặt hơn. Tuy nhiên, các chuyên gia pháp lý lên tiếng cảnh báo về những thách thức trong việc xây dựng chính sách tuân thủ các quy định của WTO. Một trong những phương án được đưa ra là tìm kiếm sự miễn trừ, với lý do rằng chính sách đánh thuế mới là một công cụ môi trường chứ không phải là một phương án để tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành công nghiệp EU  (Reuters, 15/10).

4. Nhật Bản và Hàn Quốc

  • Nhật Bản: (i) Chính phủ Nhật Bản đang xem xét gói ngân sách bổ sung thứ ba trong tài khóa 2020 nhằm phục hồi nền kinh tế đang bị ảnh hưởng mạnh do COVID-19. Dự kiến trong đầu tháng 11/2020, Thủ tướng Yoshihide Suga sẽ đưa ra chỉ thị chính thức về gói ngân sách bổ sung nhằm triển khai các chính sách kinh tế như phục hồi nhu cầu tiêu dùng, thúc đẩy tuyển dụng lao động... Dự thảo ngân sách bổ sung lần ba có thể được nội các Nhật Bản thông qua trong tháng 12/2020 và trình Quốc hội nước này xem xét trong tháng 1/2021 (NHK, 16/10); (ii) Xuất khẩu tháng 9 giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm ít nhất trong 7 tháng qua, cho thấy sức ép tăng trưởng kinh tế đang giảm dần lên nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Dẫu vậy, kim ngạch xuất khẩu sắt sang Đài Loan và tàu sang Panama giảm trong tháng 9 đánh dấu tháng giảm xuất khẩu thứ 22 liên tiếp, chuỗi dài nhất kể từ lần suy giảm liên tiếp 23 tháng kéo dài đến tháng 7/1987. (Nikkei, Reuters, 19/10).
  • Hàn Quốc: (i) Ngày 15/10, phiên họp lần thứ hai của Ủy ban Kinh tế Hydro Hàn Quốc đã thống nhất áp dụng "Chế độ bắt buộc phát điện bằng Hydro" (HPS) cho tới năm 2022 nhằm phổ biến một cách hệ thống pin nhiên liệu hydro với trọng tâm mở rộng nền kinh tế hydro. Hàn Quốc đặt mục tiêu đạt được lượng phổ biến pin nhiên liệu tới năm 2040 là 8GW, tạo ra hiệu quả đầu tư 25.000 tỷ won (khoảng 21,87 tỷ USD) trong vòng 20 năm tới. Dự kiến tổng ngân sách liên quan đến hydro của Hàn Quốc sẽ được nâng lên từ 587,9 tỷ won (514,2 triệu USD) trong năm nay lên 797,7 tỷ won (697,7 triệu USD) vào năm 2021, tăng 35% (TTXVN, 15/10); (ii) Theo số liệu của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc, kim ngạch xuất khẩu trung bình hàng ngày đạt 2,09 tỷ USD trong tháng Chín, mức cao nhất kể từ tháng 9/2019. Tính theo sản phẩm, kim ngạch xuất khẩu chip đã tăng 11,8% so với cùng kỳ năm ngoái lên 9,5 tỷ USD và chiếm gần 20% lượng hàng xuất khẩu trong tháng Chín. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu ô tô đã tăng 23,2% lên 3,79 tỷ USD do nhu cầu sản phẩm này trên toàn cầu dần phục hồi (Yonhap News, 15/10)

5. ASEAN và các nền kinh tế mới nổi

  • WB ngày 13/10 cho biết Indonesia nằm trong top 10 nước có nợ nước ngoài lớn nhất trong các nước có thu nhập thấp và trung bình. Báo cáo chưa bao gồm Trung Quốc, quốc gia cũng được ghi nhận có nợ nước ngoài. Theo báo cáo của WB, nợ nước ngoài của Indonesia đã tăng dần mỗi năm. Cụ thể, nợ nước ngoài của Indonesia trong năm 2009 là 179,4 tỷ USD, năm 2015: 307,74 tỷ USD, năm 2016: 318,94 tỷ USD, năm 2017: 353,56 tỷ USD, năm 2018: 379,58 tỷ USD và năm 2019 lên tới 402,08 tỷ USD. Phần lớn nợ nước ngoài của Indonesia là nợ dài hạn. Năm 2019, nợ nước ngoài dài hạn của Indonesia lên tới 354,54 tỷ USD, trong khi nợ ngắn hạn chỉ là 44,79 tỷ USD (Jakarta Post, 14/10).
  • Bộ trưởng Du lịch và Kinh tế sáng tạo Indonesia ngày 14/10 tuyên bố sẽ giải ngân khoản hỗ trợ 3.300 tỷ rupiah (224 triệu USD) cho các doanh nghiệp liên quan đến du lịch và chính quyền địa phương nhằm mục đích giúp giảm bớt tác động của đại dịch đối với ngành và cải thiện quy trình y tế tại các điểm du lịch. Khoản hỗ trợ này sẽ được lấy từ quỹ phục hồi kinh tế quốc gia COVID-19 trị giá 695.200 tỷ rupiah của chính phủ, nhằm mục đích tài trợ cho hệ thống chăm sóc sức khỏe và thúc đẩy nền kinh tế  (Jakarta Post, 15/10)
  • Bộ Công Thương cho biết, kinh tế Singapore có dấu hiệu tăng trưởng tích cực hơn sau khi nới lỏng các biện pháp để ngăn chặn đại dịch COVID-19, với mức tăng trưởng GDP ước tính lần đầu trong quý III/2020 giảm 7,0% so với cùng kỳ năm ngoái. Mức tăng trưởng này được coi là một sự cải thiện đáng kể so với mức tăng trưởng -13,3% trong quý II/2020 (so với cùng kỳ năm ngoái). Mức tăng trưởng này có được là nhờ sự hồi phục của lĩnh vực sản xuất, tài chính, bảo hiểm, viễn thông, thông tin… (Strait Times 14/10).
  • Theo số liệu của Bộ Nhân lực Singapore (MOM) cho biết tỷ lệ thất nghiệp của nước này trong tháng 8/2020 đã tăng 0,4 điểm phần trăm so với tháng Bảy lên mức 4,5%, mức cao nhất trong hơn một thập niên. Tuy nhiên, theo MOM, tỷ lệ thất nghiệp hàng tháng tính đến nay của Singapore vẫn thấp hơn so với các mức đỉnh điểm của các cuộc suy thoái trước đây. Chính phủ Singapore đã đưa ra sáng kiến tăng trưởng việc làm, theo đó hỗ trợ 25% lương cho mỗi lao động địa phương mới dưới 40 tuổi có mức lương khởi điểm 5.000 SGD và 50% cho các lao động địa phương mới từ 40 tuổi trở lên. Để đủ điều kiện tham gia chương trình này, các công ty phải gia tăng số lượng lao động địa phương trong giai đoạn từ tháng 9/2020 đến tháng 2/2021 so với hiện nay, đồng thời gia tăng số lượng việc làm địa phương có mức thu nhập một tháng ít nhất là 1.400 SGD.
  • Ngày 12/10, Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ đã công bố gói kích thích kinh tế lần thứ 2 trị giá 467 tỷ Rupi (khoảng 6,5 tỷ USD, tương đương 0,2% GDP) để kích thích nhu cầu tiêu dùng, trong đó có việc trả trước một phần tiền lương của nhân viên chính phủ liên bang và các khoản vay không lãi suất cho các bang, nhằm mục đích thúc đẩy chi tiêu tiêu dùng trong mùa lễ hội của Ấn Độ và tăng chi tiêu vốn. Theo đó, Chính phủ sẽ cho phép các nhân viên chi tiền trợ cấp đi lại được miễn thuế vào việc mua hàng hóa và dịch vụ, đồng thời, Ấn Độ cũng sẽ thúc đẩy đầu tư bằng việc chi thêm 250 tỷ Rupi (3,4 tỷ USD) vào các dự án đường sá, cảng, phát triển đô thị và quốc phòng, và cung cấp các khoản vay không lãi suất thời hạn 50 năm trị giá 120 tỷ Rupi cho các chính quyền bang để chi tiêu vào cơ sở hạ tầng trước ngày 31/3/2021. Ấn Độ kỳ vọng các biện pháp này sẽ tạo ra nhu cầu bổ sung ở mức 730 tỷ Rupi, khoảng 10 tỷ USD, và gói kích thích này sẽ không làm xấu thêm tình trạng thâm hụt ngân sách do chính phủ liên bang phải vay thêm bất kỳ khoản tiền nào. (Thương vụ VN tại Ấn Độ, 16/10)
  • Ngày 15/10, phát biểu trước Quốc hội Nam Phi tại thành phố Cape Town, Tổng thống Cyril Ramaphosa tuyên bố Kế hoạch Tái thiết và Phục hồi kinh tế của chính phủ nhằm đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của quốc gia phát triển nhất châu Phi này đạt khoảng 3% trong vòng 10 năm tới. Kế hoạch sẽ tập trung vào 5 trọng tâm bao gồm tạo việc làm thông qua các dự án đầu tư quy mô lớn; đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa; thúc đẩy tiến trình đổi mới kinh tế nhằm phát huy tối đa tiềm năng phát triển; tăng cường cuộc chiến chống tham nhũng và nâng cao năng lực quản trị của các cơ quan chính phủ. Theo đó, chính phủ sẽ đầu tư 100 tỷ rand (6 tỷ USD) để tạo ra khoảng 800.000 việc làm mới trong vòng 3 năm tới. Trong số này, ngoài tập trung số việc làm mới vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, chính phủ sẽ dành khoảng 300.000 việc làm mới cho các sinh viên sư phạm và y khoa tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm. (TTXVN, 16/10)

B. KINH TẾ VIỆT NAM

  • Theo báo cáo của Chính phủ, tổng trả nợ của Chính phủ 9 tháng đầu năm 2020 khoảng 241.375 tỷ đồng (tương đương với 65,8% kế hoạch cả năm), trong đó trả nợ trong nước khoảng 180.950 tỷ đồng, trả nợ nước ngoài 60.425 tỷ đồng. Căn cứ tình hình thực hiện 9 tháng đầu năm và dự báo những tháng cuối năm, Chính phủ dự kiến đến cuối năm 2020 nợ công khoảng 56,8% GDP; nợ Chính phủ khoảng 50,8% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước ước khoảng 24,1%; nợ nước ngoài quốc gia khoảng 47,9% GDP... Như vậy, đến cuối năm 2020 về cơ bản dự kiến các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong các ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép. Dự báo đến cuối năm 2021 nợ công khoảng 46,1% GDP trên cơ sở GDP đánh giá lại (khoảng 58,6% trên cơ sở GDP chưa đánh giá lại), nợ Chính phủ khoảng 41,9% GDP trên cơ sở GDP đánh giá lại (khoảng 53,2% trên cơ sở GDP chưa đánh giá lại); nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước có thể lên mức 27,4%, cần có biện pháp để kiểm soát chỉ tiêu này (Chính phủ, 20/10)
  • Theo số liệu của Viện Lowy về nghiên cứu chính sách đối ngoại của Australia ngày 19/10, Chỉ số quyền lực tại châu Á năm 2020 của Việt Nam xếp thứ 12 trong tổng số 26 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá, tăng một bậc so với năm 2019 nhờ chỉ số ảnh hưởng ngoại giao tăng 3 bậc so với năm 2019, lên vị trí thứ 9. Ngoài ra theo Viện Lowy, Việt Nam đã tham gia rất hiệu quả trong các diễn đàn và các sáng kiến thương mại khu vực, từ việc thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) với tư cách là Chủ tịch ASEAN, cho đến nỗ lực thúc đẩy Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng với 10 quốc gia thành viên khác (VTV, 20/10)

C. BÀI PHÂN TÍCH/TIN CHUYÊN SÂU

 Châu Á sẽ được lợi từ "Bidenomics"

Các nhà phân tích đã bắt đầu đưa ra những báo cáo về chính sách kinh tế của Biden, được gọi là"Bidenomics", và họ có lý do chính đáng để làm như vậy. Dựa vào kết quả các cuộc thăm dò, có thể cho rằng ứng cử viên của đảng Dân chủ Joe Biden rất có khả năng - dù chưa thể chắc chắn - giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào ngày 3/11. Vì vậy, nội dung và tác động - mà có thể sẽ rất sâu rộng - của Bidenomics đối với châu Á là những vấn đề đáng để suy ngẫm.

Trong trường hợp cuộc bầu cử sắp tới, cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo, nếu có, sẽ không phải là giữa hai chính quyền trung dung mà là sự thay đổi hoàn toàn từ một chế độ cực đoan theo chủ nghĩa đơn phương, bảo thủ và ủng hộ giới tài phiệt sang một chính quyền có lẽ là thiên tả nhất trên thang độ trung dung, ủng hộ các quy định và việc mở rộng tài khóa nhất kể từ Chính quyền Roosevelt vào những năm 1930.

Cũng giống như việc Chính quyền Trump dành phần lớn thời gian trong 4 năm qua để xóa bỏ di sản kinh tế và xã hội của chính phủ tiền nhiệm, Chính quyền Mỹ do Biden lãnh đạo có thể sẽ xóa bỏ rất nhiều chính sách thời Trump, từ các khoản thuế và trợ cấp cho tới các quy định, chính sách thương mại toàn cầu và biến đổi khí hậu.

Tăng thuế, tăng chi tiêu

Nếu thắng cử, Chính quyền Biden có thể sẽ tăng thuế thu nhập doanh nghiệp từ 21% lên 28%, phần nào đảo ngược chính sách giảm thuế (từ 35% xuống 21%) mà Chính quyền Trump đã thực thi vào năm 2017, và tăng thuế suất tối thiểu đánh vào lợi nhuận thu được từ công ty con ở nước ngoài của các doanh nghiệp Mỹ. Chính quyền Biden cũng có thể sẽ áp thuế phụ ở mức 10% đánh vào lợi nhuận mà các công ty Mỹ ở nước ngoài thu được từ hoạt động bán hàng trở lại Mỹ.

Về thuế thu nhập cá nhân, Chính quyền Biden có thể sẽ đảo ngược chính sách cắt giảm thuế đối với những người có thu nhập hơn 400.000 USD/năm và thậm chí sẽ đánh thuế lợi nhuận và cổ tức đối với những cá nhân có thu nhập hơn 1 triệu USD/năm.

Đối với các nền kinh tế châu Á, đây là một tín hiệu đáng mừng, ít  nhất là trên hai khía cạnh. Nền kinh tế Mỹ sẽ hấp thụ thêm nhiều hàng nhập khẩu, mang lại lợi ích cho các nhà xuất khẩu châu Á. Thâm hụt và nợ công ngày càng gia tăng ở Mỹ, phần lớn được Fed chuyển đổi thành tiền tệ, cũng có thể tác động tiêu cực (hay chí ít là trung lập) tới đồng USD, và điều này sẽ làm giảm sức ép đối với nguồn dự trữ đồng USD của các nền kinh tế mới nổi, cho phép họ tiếp tục giữ lãi suất ở mức thấp, qua đó hỗ trợ cho sự phục hồi của các nền kinh tế này.

Tuy nhiên, ở chiều hướng khác, đề xuất của Biden về tăng thuế đánh vào lợi nhuận thu được từ công ty con ở nước ngoài của các doanh nghiệp Mỹ và đánh thuế lợi nhuận ngoài nước sẽ ngăn cản các doanh nghiệp Mỹ mở rộng ra nước ngoài. Một chương trình "Mua hàng Mỹ" với quy mô lớn - một mục tiêu chính sách được phe Dân chủ ủng hộ Biden chú trọng, về cơ bản là một chiến dịch thay thế hàng nhập khẩu - cũng sẽ tác động tiêu cực tới các nhà xuất khẩu châu Á.

Cứng rắn về thương mại, nhưng theo cách khác

Vấn đề được các quốc gia châu Á (và các quốc gia khác) đặc biệt quan tâm là chính sách thương mại của Chính quyền Mỹ dưới sự lãnh đạo của Biden. Theo cương lĩnh của đảng Dân chủ, Chính quyền Biden sẽ không kích động "các cuộc chiến thuế quan đơn phương, tự mình hại mình" - điều này có thể đồng nghĩa với một giai đoạn đảo ngược các mức thuế mà Trump đã đưa ra đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc cũng như từ Liên minh châu Âu và các nước khác.

Mặc dù vậy, Chính quyền Mỹ dưới sự lãnh đạo của Biden sẽ tỏ ra cứng rắn hơn trong thương mại so với Chính quyền Obama, nhất là đối với Trung Quốc; đảng Dân chủ hiện nay không kém phần hiếu chiến so với Chính quyền Trump trong vấn đề chính sách thương mại với Trung Quốc.

Cương lĩnh của đảng Dân chủ cam kết "bảo vệ người lao động Mỹ khỏi các hành vi thương mại không công bằng của Chính phủ Trung Quốc, trong đó có việc thao túng tiền tệ và hưởng lợi từ chênh lệch tỷ giá hối đoái với đồng USD, các khoản trợ cấp bất hợp pháp và trộm cắp tài sản trí tuệ". Tuy nhiên, Chính quyền Biden sẽ sử dụng các cơ chế khác để thực hiện điều này, có thể là liên kết với EU và một số nước châu Á nhằm chung tay thúc đẩy Trung Quốc ứng xử "có đi có lại" trong thương mại, thay vì hành động đơn phương.

Chính quyền Biden cũng có thể tìm kiếm một cách tiếp cận tập thể nhằm đối phó với các công ty công nghệ Trung Quốc như Huawei. Về vấn đề này, nhiều nhân vật trong đảng Dân chủ và Chính quyền Trump có chung mối nghi ngờ xoay quanh những rủi ro an ninh.

Đa phương hơn

Do có thiện cảm hơn với thể chế đa phương, Chính quyền Biden có thể cũng sẽ tiếp thêm sinh lực cho WTO bằng cách đề cử thẩm phán vào cơ quan phúc thẩm của WTO. Một WTO được tiếp thêm sinh lực sẽ nhận được sự hoan nghênh của tất cả các quốc gia, trong đó có Trung Quốc, nhưng đặc biệt là các nước nhỏ hơn bởi họ có thể lấy lại ảnh hưởng đòn bẩy ở mức độ nào đó trong các tranh chấp thương mại của họ với các cường quốc kinh tế. Mỹ cũng có thể sẽ tham gia trở lại Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). 11 quốc gia ký kết hiệp định này vốn là các bên tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Mỹ đã không còn là thành viên từ năm 2017 sau quyết định của Chính quyền Trump. Tuy nhiên, quyết định này sẽ đi kèm với một số điều kiện. Những điều kiện này có thể sẽ bao gồm những tiêu chuẩn khắt khe hơn về môi trường và lao động, điều sẽ làm hài lòng nhóm cử tri nền tảng ủng hộ đảng Dân chủ.

Chính quyền Biden cũng có thể sẽ áp dụng cách tiếp cận cộng tác nhằm đối phó với sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc - một chương trình cơ sở hạ tầng trị giá hàng nghìn tỷ USD, trải rộng khắp một số quốc gia châu Á, châu Phi và châu Âu. Tại Diễn đàn kinh doanh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vào tháng 11/2019, Mỹ, Nhật Bản và Australia đã công bố sáng kiến mang tên Mạng lưới điểm xanh nhằm thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư tư nhân, chẳng hạn như các quỹ hưu trí hay các công ty bảo hiểm quản lý hàng nghìn tỷ USD và đang tìm kiếm lợi nhuận dài hạn. Điều này sẽ mở đường cho nhiều khoản đầu tư khác của Mỹ, Nhật Bản và Australia vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là ở châu Á nhưng có thể ở cả các quốc gia khác, qua đó có thể cạnh tranh ở mức độ nào đó với BRI của Trung Quốc và buộc nước này nâng cao tiêu chuẩn về tính minh bạch và tính bền vững. Tất cả những điều này đều sẽ mang lại lợi ích cho khu vực.

Chính quyền Biden sẽ không phải là một Chính quyền Obama 2.0. Họ sẽ thiên tả nhiều hơn, ủng hộ mở rộng tài khóa và các quy định, đồng thời thận trọng và chủ động hơn trong lĩnh vực chính sách thương mại. Tuy nhiên, sau 4 năm nhiệm kỳ của Chính quyền Trump, Bidenomics sẽ mở ra một cách tiếp cận ổn định, dễ đoán và đa phương hơn đối với việc hoạch định chính sách kinh tế, và điều này sẽ được các quốc gia châu Á hoan nghênh./.

(Straits Times, 14/10/2020).

Tin liên quan
Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 24/11/2020)    27/11/2020
Báo chí Nhật Bản nhận định về hai nhân tố lớn thúc đẩy kinh tế Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á    27/11/2020
Trung Quốc thúc đẩy các giải pháp để tận dụng RCEP và các FTA    27/11/2020
Việt Nam tiếp tục đề cao hợp tác đa phương tại Hội nghị thượng đỉnh G20    27/11/2020
Quan điểm của các nước tại Hội nghị APEC năm 2020    27/11/2020
Khai giảng lớp bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng đối ngoại tại tỉnh Tiền Giang    27/11/2020
Tạp chí “Tri thức thế giới” (Trung Quốc) bình luận về chính sách ngoại giao của Ấn Độ kể từ khi Modi lên nắm quyền    24/11/2020
Các nước tiếp tục đánh giá về Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)    24/11/2020
Hiệp định RCEP mở ra cơ hội nào cho đồ điện tử gia dụng Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam    23/11/2020
WHO kêu gọi các nước xem kiến tạo hòa bình và ngăn chặn Covid-19 là hai phạm trù không thể tách rời    19/11/2020

Liên kết Liên kết

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

  Đang truy cập : 2
  Hôm nay: 176
  Tổng lượt truy cập: 109166