Truy cập nội dung luôn

Nội dung bài viết

Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 29/6/2021)
07/07/2021

VỤ TỔNG HỢP KINH TẾ

   -----------

BẢN TIN NGOẠI GIAO KINH TẾ
(Thứ Ba, ngày 29/6/2021)

***

Tin vắn:

  • IMF thảo luận về đề xuất mở rộng Quyền rút vốn đặc biệt lên 650 tỷ USD.
  • Mỹ được dự báo dẫn đầu thế giới về thu hút FDI năm 2021 và 2022.
  • Mỹ và Đài Loan nối lại các cuộc đàm phán trong khuôn khổ TIFA.
  • UBS dự báo Trung Quốc sẽ duy trì tỷ lệ đòn bẩy dưới 300% trong năm 2021.
  • Lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm 2021.
  • Nhật Bản thông báo đã phê chuẩn RCEP.
  • Anh và Singapore khởi động đàm phán thoả thuận thương mại số.
  • Thái Lan thông qua kế hoạch cho phép hoạt động du lịch miễn cách ly tại Phuket.
  • Tổng vốn FDI của Việt Nam đạt 15,27 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2021

Tin phân tích:

Điều gì xảy ra nếu USD đánh mất vị thế thống trị?

A. KINH TẾ THẾ GIỚI

  • IMF ngày 25/6 thảo luận về đề xuất mở rộng quỹ dự trữ khẩu cấp mang tên "Quyền Rút vốn đặc biệt - SDRs" của mình lên 650 tỷ USD. Khoản bổ sung này nếu được thông qua sẽ là lớn nhất trong lịch sử của IMF. Theo người phát ngôn IMF, phần bổ sung này nhằm giúp các thành viên dễ bị tổn thương nhất vượt qua đại dịch COVID-19 và kinh tế suy giảm (Bloomberg, 22/6)
  • Ngày 28/6, WEF có bài viết về “Biến đổi khí hậu (BĐKH) ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu như thế nào”; theo đó BĐKH có thể làm tiêu tan 18% GDP toàn cầu năm 2050 nếu nhiệt độ toàn cầu tăng 3,2 độ C. Các nền kinh tế châu Á được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất, 5,5% GDP trong trường hợp tốt nhất và 26,5% trong trường hợp xấu nhất; Các quốc gia chịu tác động tiêu cực nhất là Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia; còn Mỹ, Canada, Đức và Thụy Sỹ nằm trong nhóm nước có khả năng ít bị ảnh hưởng nhất (World Economic Forum, 28/6)

1. Mỹ

  • UNCTAD dự báo, trong năm 2021 và 2022, Mỹ sẽ củng cố vị trí dẫn đầu của mình và Trung Quốc đứng ở vị trí thứ hai về thu hút FDI, khi các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường năng lực để đáp ứng nhu cầu khổng lồ sau đại dịch. Lý do được đưa ra là sự lạc quan của các nhà đầu tư với triển vọng phục hồi nhanh và bền vững trong chi tiêu của người tiêu dùng Mỹ và kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng trị giá hàng tỉ đô la của chính quyền Tổng thống Joe Biden. Năm 2020, Mỹ ghi nhận FDI giảm đến 40% nhưng vẫn giữ vững vị trí lâu nay là điểm đến hàng đầu của dòng vốn đầu tư nước ngoài. (UNCTAD, 21/6)
  • Theo WSJ, chính sách hỗ trợ kinh tế của Chính phủ Mỹ đã thúc đẩy sự phục hồi toàn cầu ở mức độ chưa từng có trong nhiều thập kỷ và tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư để đáp ứng nhu cầu khổng lồ của người Mỹ. Các nhà kinh tế cho rằng, nền kinh tế Mỹ được đẩy mạnh nhờ gói kích thích trị giá gần 6 nghìn tỷ đô la và hiện thiếu hàng hóa, đang đóng vai trò kích thích kinh tế thế giới. Kinh tế Mỹ dự kiến tăng trưởng 6,9% năm 2021; và dự kiến sẽ nhập khẩu thêm 170 tỷ USD mỗi năm cho đến năm 2026, so với 140 tỷ của Trung Quốc. Tuy nhiên, sự phục hồi này cũng tạo sức ép khiến giá hàng hóa ở các nước tăng cao, gây khó khăn cho nhiều ngân hàng trung ương, xáo trộn thị trường tài chính và nguy cơ lạm phát có thể xảy ra ở nhiều nước. (WSJ, 28/6)
  • Mỹ và Đài Loan sẽ nối lại các cuộc đàm phán trong khuôn khổ Thỏa thuận khung về Thương mại và Đầu tư giữa hai bên vào ngày 30 tháng 6, theo Insider Trade. Đây là cuộc họp hội đồng TIFA lần thứ 11 giữa Mỹ và Đài Loan. Theo các nhà phân tích và Bộ trưởng Deng (Đài Loan), hai bên có thể sẽ sử dụng các cuộc hội đàm như một cơ hội để giải quyết các vướng mắc còn tồn tại ở các cuộc họp TIFA trước đây cũng như các vấn đề hiện tại khác như an ninh chuỗi cung ứng, thương mại kỹ thuật số, khí thải carbon, quyền và phúc lợi lao động. (ĐSQVN tại Mỹ, 27/6)

2. Trung Quốc

  • Đà hồi phục của kinh tế Trung Quốc sau đại dịch hiện đang phụ thuộc vào những động lực tăng trưởng giống hệt với những gì đã tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế lớn thứ hai thế giới ở thời điểm trước dịch; đồng thời vẫn phải đối mặc với những rủi ro cố hữu. Dữ liệu kinh tế tháng 5 của Trung Quốc cho thấy mức tăng trưởng yếu hơn so với dự báo được đưa ra trước đó. Sản lượng công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng trưởng 13,6% so với cùng kỳ năm 2019, doanh số bán lẻ tăng 9,3%, đầu tư tài sản cố định tăng 8,5% và đầu tư bất động sản tăng 17,9% (WSJ - 22/6).
  • Theo Báo cáo “Triển vọng đầu tư châu Á-Thái Bình Dương” của Ngân hàng UBS, chính sách của chính phủ Trung Quốc thời gian tới sẽ chuyển sang hỗ trợ tăng trưởng nền kinh tế thực một cách có mục tiêu hơn, những biện pháp đã công bố hoặc có thể ban hành bao gồm: ngân hàng trung ương bơm thanh khoản cho thị trường, để kiểm soát lãi suất tăng đột ngột, mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, kiểm soát giá hàng hóa chiến lược. Chính phủ có thể sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách bất động sản và các nền tảng tài chính của chính quyền địa phương để ổn định nợ và duy trì tỷ lệ đòn bẩy dưới 300% vào cuối năm nay. (CCTV, Mạng tin Kinh tế Trung Quốc - 24/6).
  • Ngày 27/6, Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS) công bố số liệu cho thấy, trong 5 tháng đầu năm 2021, lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp tăng mạnh, đạt 3.424,7 tỷ NDT (khoảng 535,1 tỷ USD), tăng 83,4% so với cùng kỳ 2020, tăng 48% so với cùng kỳ năm 2019, bình quân hai năm 2019 và 2020 tăng 21,7%, tiếp tục duy trì xu thế tăng trưởng tương đối nhanh kể từ nửa cuối năm 2020. Tính đến cuối tháng 5/2021, tổng tài sản của các doanh nghiệp công nghiệp là 131,41 nghìn tỷ NDT, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2020 (Mạng Kinh tế Trung Quốc, 28/6).

3. Châu Âu

  • Theo số liệu do Cơ quan thống kê châu Âu Eurostat (25/6), hoạt động du lịch tại các nước thuộc EU trong năm Covid-19 bùng phát đã sụt giảm tới 61%. Sự sụt giảm được phản ánh qua tổng số đêm du khách nghỉ tại các cơ sở lưu trú du lịch ở EU từ tháng 4/2020-3/2021. Trong số các quốc gia thành viên EU có dữ liệu thống kê, Malta ghi nhận mức giảm lớn nhất 80%, tiếp đó là Tây Ban Nha với 78%, Hy Lạp 74%. Bồ Đào Nha 70%.... Sự sụt giảm này chủ yếu do các hạn chế đi lại cũng như các biện pháp phòng ngừa khác mà nhiều quốc gia triển khai để đối phó với dịch bệnh. (THX, 27/6)
  • Anh và Singapore khởi động tiến trình đàm phán về thỏa thuận thương mại số vào ngày 28/6. Thỏa thuận này là một phần trong cuộc chạy đua của London nhằm trở thành một “trung tâm công nghệ toàn cầu” hậu Brexit. Kể từ khi hoàn thành kế hoạch rời khỏi EU cuối năm 2020, Anh đã tích cực thúc đẩy các thỏa thuận thương mại mới, đặc biệt là với những quốc gia ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó có thỏa thuận gần đây nhất với Australia. Thương mại số được London đánh giá có vai trò chủ chốt nhằm hỗ trợ các công ty công nghệ Anh tận dụng cơ hội đầu tư ở nước ngoài để nỗ lực tạo điều kiện phục hồi trong giai đoạn hậu COVID-19. (AFP/TTXVN, 28/6)

4. Nhật Bản và Hàn Quốc

  • Nhật Bản: (i) Ngày 29/6, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đã công bố Sách Trắng về Kinh tế và Thương mại quốc tế năm 2021, theo đó cho rằng  Nhật Bản cần đa dạng hóa các nhà cung cấp và hợp tác với các quốc gia khác, trong đó có Mỹ, để bảo vệ chuỗi cung ứng như một cách để cải thiện an ninh kinh tế; tiến hành các biện pháp triệt để nhằm ngăn chặn rò rỉ công nghệ nhạy cảm; đặt ưu tiên cho thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ; đầu tư vốn vào công nghệ chiến lược nhằm tăng cường sản xuất trong nước và đảm bảo lợi thế cạnh tranh. (METI, 29/6) (ii) Tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật Bản tăng trong tháng thứ hai liên tiếp, đạt 3% vào tháng Năm/2021. Đây là mức thất nghiệp cao nhất tại Nhật Bản kể từ đầu năm 2021 (Japan Times, 28/6); (iii) Ngày 25/6, Bộ Ngoại giao Nhật Bản thông báo nước này phê chuẩn Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) - hiệp định với sự tham gia của 10 thành viên của ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand và Australia. Chính phủ Nhật Bản ước tính RCEP có thể nâng GDP của Nhật Bản thêm khoảng 2,7% (BNews, 26/6).
  • Hàn Quốc: (i) Hàn Quốc nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2021 lên 4,2%; cao hơn 1% so với dự báo thực hiện cuối năm 2020. Lạm phát dự kiến khoảng 1,8%; xuất khẩu dự kiến tăng 18,5% năm 2021 lên mức kỷ lục 607,5 tỷ USD. (Bloomberg, 28/6); (ii) Bộ Tài chính Hàn Quốc thông tin kế hoạch tạo hơn 150.000 việc làm mới thông qua ngân sách bổ sung theo kế hoạch để đạt được sự bình thường hóa sớm trên thị trường lao động của đất nước (The Economics Times, 28/6).

5. ASEAN và các nền kinh tế mới nổi

  • ASEAN: Ngày 25/6 tại thủ đô Brasilia (Brazil), đã diễn ra cuộc họp trực tuyến giữa Đại sứ, Đại diện Văn phòng thương mại các nước ASEAN với 40 nhà nhập khẩu, xuất khẩu và cung cấp dịch vụ Brazil nhằm đẩy mạnh việc quảng bá hình ảnh, xúc tiến thương mại giữa ASEAN và Brazil. Trên cương vị Chủ tịch Ủy ban ASEAN tại Brazil, Đại sứ Việt Nam Phạm Thị Kim Hoa đã giới thiệu về ASEAN và các lĩnh vực có thể hợp tác với Brazil trong đó có thương mại và đầu tư, nông nghiệp và an ninh lương thực. Trong năm 2020, ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ ba của Brazil với thương mại hai chiều là 21 tỷ USD. (TTXVN, 24/6)
  • Chính phủ Thái Lan đã thông qua kế hoạch cho phép hoạt động du lịch miễn cách ly tại địa điểm nghỉ dưỡng Phuket, có hiệu lực từ ngày 1/7. Kế hoạch này được gọi là "Hộp cát Phuket" sẽ cho phép du khách quốc tế (đã tiêm vaccine Covid-19 và đến từ những nước mà Chính phủ Thái Lan coi là có nguy cơ lây nhiễm thấp hoặc trung bình) đến và tự do đi lại trên đảo Phuket mà không phải trải qua cách ly. (TTXVN tại Bangkok, 23/6)
  • Ngân hàng Trung ương Philippines (BSP) giữ nguyên lãi suất ở mức thấp kỷ lục 2% nhằm duy trì các chính sách tiền tệ thích hợp để hỗ trợ phục hồi kinh tế. Thống đốc BSP Benjamin Diokno cho biết hoạt động kinh tế đã cải thiện trong những tuần gần đây, song đà phục hồi kinh tế vẫn còn yếu do số ca mắc Covid-19 tiếp tục tăng, có khả năng làm trì hoãn kế hoạch nới lỏng các biện pháp hạn chế và làm giảm triển vọng đối với tăng trưởng kinh tế trong nước. (Reuters, 24/6)
  • Bộ trưởng Công nghiệp Indonesia cho biết đang đẩy nhanh chiến lược chuyển đổi 6,1 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa gia nhập thị trường kỹ thuật số trong năm 2021. Để đạt được mục tiêu này, Indonesia sẽ hỗ trợ chương trình e-Smart IKM nhằm thúc đẩy khả năng cạnh tranh, mở rộng năng lực tiếp cận thị trường, giúp các thành viên IKM tiếp cận các đối tác có thể giúp phát triển kỹ thuật số. Mục tiêu này phù hợp với kế hoạch “Making Indonesia 4.0” nhằm đưa Indonesia vào danh sách 10 quốc gia có nền kinh tế mạnh nhất thế giới vào năm 2030. (TTXVN tại Jakarta, 24/6)
  • Bộ trưởng phụ trách vấn đề kinh tế thuộc Văn phòng Thủ tướng Malaysia Mustapa Mohamed cho biết Malaysia đang trên đà phục hồi vững chắc với mức tăng trưởng GDP tốt trong quý I/2021 và sự phục hồi mạnh mẽ của các chỉ số kinh tế. Ngân hàng thế giới (World Bank) đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng của Malaysia trong năm nay xuống 4,5% từ mức 6% trước đó do tác động của đại dịch Covid-19 đang diễn ra và các hạn chế di chuyển sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế Malaysia trong thời gian tới. (TTXVN, 28/6)
  • Ngày 22/6, Chính phủ Brazil thông báo kế hoạch tín dụng trị giá 250 tỷ real (khoảng 50 tỷ USD) dành cho ngành nông nghiệp nhằm hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp trong niên vụ 2021-2022, với trọng tâm tạo ra các mô hình nông nghiệp ít tác động nhất tới môi trường, hỗ trợ nông nghiệp carbon thấp. Trong tổng số các khoản tín dụng được công bố, khoảng 40 tỷ real (8 tỷ USD) sẽ phân bổ cho khu vực nông nghiệp hộ gia đình, vốn chiếm 74% lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp tại Brazil và sản xuất ra khoảng 70% lượng lương thực tiêu thụ trong nước. (TTXVN tại Buenos Aires, 27/6)

B. KINH TẾ VIỆT NAM

  • Bộ Tài chính ban hành Thông tư gia hạn thời gian giảm phí, lệ phí áp dụng từ ngày 1/7 đến 31/12 cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi COVID-19, với số giảm thu trong sáu tháng ước khoảng 1.000 tỷ đồng. Nhiều lĩnh vực có mức giảm cao, như giảm 50% mức thu 20/22 khoản phí, lệ phí trong lĩnh vực chứng khoán, giảm 50% mức phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng, giảm 30% mức thu phí sử dụng đường bộ đối với xe kinh doanh vận tải hành khách, giảm 20% mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không… (Vietnam Plus, 25/6)
  • Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp thuộc Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công Thương) bắt đầu bắt đầu tiếp nhận hồ sơ đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với một số sản phẩm đường mía có xuất xứ từ Thái Lan. Trước đó, ngày 15/6,  Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1578/QĐ-BCT về việc áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp chính thức đối với một số sản phẩm đường mía có xuất xứ từ Thái Lan trong thời hạn 5 năm, mức thuế 47,64%. (TTXVN,26/6)
  • Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tính đến ngày 20/6/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 15,27 tỷ USD, bằng 97,4% so với cùng kỳ năm 2020. Vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt 9,24 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2020. Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,64 tỷ USD, chiếm gần 36,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2020. Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 2,44 tỷ USD, chiếm gần 16% tổng vốn đầu tư và tăng 66,8% so với cùng kỳ. (Tạp chí tài chính, 25/6)
  • Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 82-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2025, 100% công ty nông, lâm nghiệp được xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, đất đai và kinh doanh có lãi; đạt được tiêu chí phổ biến về quản trị doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế. (Báo tin tức, 25/6)

C. BÀI PHÂN TÍCH/TIN CHUYÊN SÂU

Điều gì xảy ra nếu USD đánh mất vị thế thống trị? (The Diplomat, 21/6)

Giáo sư từng đạt giải Nobel kinh tế Paul Krugman, người phụ trách chuyên mục kinh tế của tờ “New York Times” bày tỏ sự hoài nghi về việc sự thống trị của đồng USD sẽ sớm kết thúc. Tuy nhiên, ông cho rằng ngay cả khi đồng USD kết thúc sự thống trị của mình, điều này cũng khó có thể gây ra tác động thảm khốc đối với nền kinh tế Mỹ. Ông cho rằng sự thống trị của đồng USD dường như không ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ lãi suất đối với các khoản nợ của Mỹ và có rất ít lý do để tin rằng giá trị của đồng USD sẽ sụp đổ nếu đồng tiền này không còn được coi là đồng tiền quốc tế chính.

Ông Krugman đưa ra nhận định này sau khi xem xét một loạt yếu tố liên quan đến tính dễ bị tổn thương, bao gồm cả tỷ lệ lãi suất và biến động tiền tệ đối với vị thế của đồng USD. Ông cho rằng khả năng kết thúc sự thống trị của đồng USD, mặc dù ít có khả năng xảy ra, cũng khó có thể tác động mạnh đến nền kinh tế Mỹ. Hoạt động kinh tế của Vương quốc Anh phần lớn không liên quan đến việc kết thúc sự thống trị của đồng bảng Anh. Hơn nữa, các thành viên kinh tế quan trọng trên toàn cầu như Canada và Australia dường như không bị ảnh hưởng bởi việc họ không kiểm soát một loại tiền tệ thống trị trên thế giới.

Tuy nhiên, nhà khoa học chính trị Henry Farrell, Đại học Johns Hopkins và một số chuyên gia kinh tế khác cho rằng việc bảo vệ sự thống trị của đồng USD ít liên quan đến sự thịnh vượng và hoạt động kinh doanh của người Mỹ, mà liên quan nhiều hơn đến việc “vũ khí hóa” sự phụ thuộc lẫn nhau. Sự thống trị của đồng USD kết hợp với các công cụ giám sát và phân tích kỹ thuật số tiên tiến giúp chính phủ Mỹ có cái nhìn sâu sắc về hoạt động kinh tế quốc tế. Điều này cho phép Mỹ áp dụng chính xác các biện pháp trừng phạt chống lại đối thủ, giám sát việc tránh thuế và trốn thuế, đồng thời theo dõi việc buôn bán quốc tế đối với vũ khí, ma túy và các hàng hóa bất hợp pháp khác.

Trong khi việc tích hợp các lĩnh vực tài chính và không gian mạng mang lại cho Mỹ sức mạnh cưỡng chế đặc biệt trong ba thập kỷ qua, khả năng vũ khí hóa hệ thống tài chính quốc tế của các cường quốc có từ rất lâu đời. Sự suy yếu của sức mạnh tài chính hầu như sẽ tương tự sự tiêu tan của mọi loại quyền lực khác. Một câu hỏi khác và có lẽ quan trọng hơn là sự ổn định của hệ thống tài chính toàn cầu trước sự bá quyền của Mỹ. Một nhóm các học giả quan hệ quốc tế ở Mỹ nghiên cứu câu hỏi về việc liệu các chuẩn mực và thể chế do Mỹ và các đồng minh thiết lập trong cuộc Chiến tranh Lạnh có thể tồn tại sau khi quyền bá chủ của Mỹ mất dần hay không? Liệu các tổ chức tài chính có giống như các tổ chức quốc tế khác hay không, do nhu cầu quản lý cẩn thận của các ngân hàng trung ương và mức độ độc lập với chính phủ của họ. Liệu toàn cầu hóa có thể tồn tại trong một hệ thống tài chính đa cực hay không vẫn chưa chắc chắn, và câu hỏi này có thể sẽ khiến các chủ ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách khác bận tâm trong vài thập kỷ tới./.

 

 

Liên kết Liên kết