Truy cập nội dung luôn

Nội dung bài viết

Hội thảo quốc tế về tăng cường hợp tác đầu tư Việt Nam - Trung Đông
24/09/2021

     Vừa mới đây, vào ngày 26/8/2021, thực hiện chiến lược ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế và để chuẩn bị mở cửa nền kinh tế sau đại dịch Covid-19, Bộ Ngoại giao đã tổ chức hội thảo quốc tế dưới hình thức trực tuyến về tăng cường hợp tác đầu tư Việt Nam - Trung Đông: Cơ hội, tiềm năng và cách tiếp cận mới.

 

(Ảnh: Sưu tầm)

     Tham gia hội thảo có đại diện lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lãnh đạo một số tỉnh, thành và doanh nghiệp đang có dự án hợp tác với khu vực Trung Đông, cùng các vị Đại sứ, Đại biện các nước Trung Đông, các Quỹ đầu tư, Tập đoàn, Công ty khu vực Trung Đông - Bắc Phi đang hoạt động tại Việt Nam.

     Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Phạm Quang Hiệu - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nhận định đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều khó khăn, cản trở cho nỗ lực phục hồi kinh tế thế giới, trong đó có khu vực Trung Đông và Việt Nam. Để ứng phó với đại dịch và dần mở cửa, nhiều nước Trung Đông và Việt Nam đã và đang có những điều chỉnh chính sách về kinh tế, thương mại, đầu tư và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực nền kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc gia, hướng tới phát triển bền vững và sáng tạo hơn. Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần mở ra những cơ hội hợp tác mới giữa Việt Nam và Trung Đông. Theo ông Hiệu, đầu tư ra nước ngoài của các nước Trung Đông rất đa dạng và linh hoạt về hình thức đầu tư như trực tiếp, gián tiếp, đầu tư hợp tác nhiều bên, qua quỹ đầu tư chung... Thời gian qua, Việt Nam đã nổi lên như một “mắt xích” quan trọng trong chuỗi kinh tế toàn cầu và liên khu vực với việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Điều đó cho thấy tiềm năng và cơ hội rất lớn để đầu tư vào Việt Nam. Với mục tiêu phát triển bền vững, thời gian tới Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh. Nhiều nước Trung Đông cũng đẩy mạnh đa dạng hóa nền kinh tế, phát triển các ngành mũi nhọn và đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài. Điểm qua những thế mạnh và tiềm năng của các quốc gia khu vực Trung Đông, ông Hiệu cho biết, Trung Đông là khu vực rộng lớn với dân số hơn 350 triệu người và GDP hơn 6.000 tỷ USD. Đây là nơi tập trung nhiều nền kinh tế phát triển của các khu vực như: Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Quatar, Ả Rập Xê Út... Không chỉ nổi tiếng với tiềm năng về trữ lượng dầu khí, Trung Đông còn có thế mạnh rất lớn về nguồn lực tài chính, nhiều quỹ đầu tư công uy tín và lớn nhất thế giới với tổng số vốn trên 2.000 tỷ USD, 4/10 quỹ đầu tư lớn nhất thế giới ở Trung Đông, chiếm hơn 40% tổng tài sản quỹ đầu tư công thuộc các chính phủ trên phạm vi toàn cầu.

     Theo bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam duy trì được sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững. Năm 2020, tuy dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, nhưng Việt Nam là một trong ít quốc gia duy trì được tăng trưởng dương và kết quả 6 tháng đầu năm 2021 vẫn đạt mức tăng trưởng ở mức 5,64%. Hiện có 141 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 400 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2021, vốn đăng ký FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng 19,1%  so cùng kỳ năm 2020. Hiện các quốc gia Trung Đông đã có 135 dự án FDI tại Việt Nam với tổng số vốn trên 900 triệu USD, nhưng con số thực tế có thể lớn hơn nhiều vì hình thức góp vốn qua bên thứ 3. Bà Ngọc cũng cho biết, Việt Nam có nhiều đặc trưng nổi bật, được nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, bởi đây là thị trường mới nổi, có lợi thế vị trí địa chính trị rất quan trọng trong khu vực ASEAN, có quá trình tăng trưởng nhanh và khá bền vững, hệ thống chính trị ổn định, nền kinh tế có độ mở lớn (trên 200% so với các nước đang phát triển). Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào gần 100 triệu dân, với lực lượng lao động trẻ và tầng lớp trung lưu ngày càng tăng (chiếm 15% dân số), tạo thành thị trường có chỉ số bán lẻ hấp dẫn nhất trong khu vực (đứng thứ 6 thế giới). Tuy nhiên, bà Ngọc cũng cho rằng dòng vốn đầu tư từ các quốc gia Trung Đông vào Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và ở chiều ngược lại cũng còn ít doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang khu vực này. Để thúc đẩy hợp tác giữa các bên trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu Chính phủ tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng, chuẩn bị quỹ đất sạch, lực lượng lao động, cải thiện môi trường đầu tư, gắn với thành lập tổ công tác đặc biệt để tháo gỡ các khó khăn cho các nhà đầu tư do một Phó Thủ tướng đứng đầu. Ngoài ra, Chính phủ cũng thành lập quỹ tài chính hỗ trợ đầu tư, khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam thành lập chuỗi cung ứng sang các quốc gia vùng Vịnh; thúc đẩy cơ chế hợp tác 03 bên như dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn ở tỉnh Thanh Hóa.

     Tham luận tại hội thảo, T.S Nguyễn Quốc Hùng, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã phê chuẩn đề án phát triển quan hệ hợp tác về tài chính giữa Việt Nam với các nước Trung Đông và Châu Phi giai đoạn 2016-2025. Tính đến hết năm 2020, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã thiết lập hơn 493 quan hệ đại lý với các quốc gia tại thị trường Trung Đông, doanh số thanh toán, chuyển tiền đạt hơn 4,3 tỷ USD. Trong đó doanh số giao dịch thanh toán quốc tế với UAE đạt hơn 2,3 tỷ USD, chiếm hơn 50% tổng doanh số giao dịch với thị trường Trung Đông. Một số ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động tích cực tại thị trường này phải kể đến như: Vietcombank, BIDV và MB.

(Ảnh: Sưu tầm)

     Về triển vọng phát triển kinh tế trong thời gian tới, T.S Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, sau đại dịch, tốc độ phục hồi kinh tế toàn cầu sẽ diễn ra nhanh, trong đó có Việt Nam. Theo IMF, năm 2021, kinh tế thế giới phục hồi tăng trưởng có thể tới mức 6%. Thương mại - động lực quan trọng cho nền kinh tế phục hồi gần 9%. Đầu tư FDI tại Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng tích cực, tuy nhiên đầu tư của khu vực Trung Đông vẫn chưa xứng với tiềm năng hiện có và kỳ vọng sẽ tăng lên trong thời gian tới. Ngoài ra, Việt Nam có lực lượng lớn lao động ở Trung Đông, đóng góp đáng kể vào lượng kiều hối. Dự báo năm nay vào năm 2022, lượng kiều hối sẽ tăng khoảng 5%. Việt Nam đang cải thiện quyết liệt môi trường đầu tư kinh doanh và được đánh giá là điểm sáng đầu tư ở ASEAN.

      Phát biểu tham luận tại hội thảo, ông Haldun Tekneci - Đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ tại Việt Nam nhận định rằng Trung Đông là cửa ngõ giữa Châu Âu và Châu Á. Đối với Châu Á, ASEAN có vị trí hết sức đặc biệt, chính vì thế Thổ Nhĩ Kỳ luôn mong muốn thúc đẩy hợp tác, trong đó có Việt Nam với thị trường đầy tiềm năng; và thực tế các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ đã đầu tư hơn 1,7 tỷ USD vào các lĩnh vực công nghệ, dệt may, tiêu dùng, cáp quang... và cả kết nối hàng không giữa Istanbul với Hà Nội và TP. HCM.

     TS Khalid Alyahya - Phó Tổng thư ký G20 của Liên đoàn Á Rập cho rằng Ả Rập Xê Út có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa với Việt Nam. Tầng lớp trẻ trí thức của hai nước đều năng động và mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác.

     Riêng đối với Tiền Giang, thời gian qua, quan hệ hợp tác với các quốc gia Trung Đông cũng không ngừng được mở rộng. Về mặt chính trị đối ngoại, UBND tỉnh tiếp tục duy trì quan hệ thăm viếng, chào xã giao, chúc tết một số cơ quan lãnh sự của các quốc gia vùng Vịnh tại TP. HCM. Hiện có 01 dự án đầu tư FDI từ UAE với vốn đầu tư 9,6 triệu USD trong lĩnh vực may mặc. Quan hệ hợp tác du lịch với UAE cũng phát triển khá mạnh mẽ trong những năm gần đây, cả trong lĩnh vực xuất khẩu lao động sang các quốc gia Trung Đông. Với Israel từ năm 2015 tỉnh đã cử nhiều đoàn sang học tập nghiên cứu mô hình sản xuất nông nghiệp và các mô hình hợp tác xã (Kibbuts, Moshav) của Israel, trong đó có 01 đoàn do Bí thư Tỉnh ủy dẫn đầu và 02 đoàn do Chủ tịch UBND tỉnh sang khảo sát thực tế. Kết quả, hiện nay, tại một số huyện trong tỉnh, các doanh nghiệp, HTX và người dân đã áp dụng mô hình trồng dưa lưới, cà chua bi, rau ăn trong nhà lưới áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel; công nghệ tưới tiết kiệm nước và điện cho vùng trồng thanh long tại huyện Chợ Gạo; mô hình trồng thanh long theo hàng...

     Hội thảo tuy diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng đã làm rõ nhiều vấn đề và mở ra nhiều cơ hội hợp tác cho Việt Nam và các quốc gia vùng Vịnh. Phát biểu kết luận hội thảo, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Phạm Quang Hiệu mong muốn các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở các nước Trung Đông cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương, bộ, ngành trung ương và hiệp hội các doanh nghiệp để giới thiệu các cơ hội hợp tác đầu tư, phục vụ quá trình phát triển kinh tế xanh và bền vững của Việt Nam. Ông Hiệu cũng mong các vị Đại sứ, Đại biện các nước Trung Đông, các Quỹ đầu tư, Tập đoàn, Công ty khu vực Trung Đông - Bắc Phi tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác với Việt Nam trên cơ sở bình đẳng và các bên cùng có lợi thời kỳ hậu Covid-19./.

L.P

Liên kết Liên kết