Truy cập nội dung luôn

HỘI NGHỊ KẾT NỐI KIỀU BÀO HỘI NGHỊ KẾT NỐI KIỀU BÀO

Cục diện Biển Đông nhìn từ quan điểm của các học giả Trung Quốc

Tài khoản "Chương trình nhận biết tình hình chiến lược Nam Hải" (SCS-PI) thuộc Đại học Bắc Kinh Trung Quốc mới đây đăng bài viết phản bác các tuyên bố của Mỹ liên quan đến vấn đề Biển Đông, nội dung chính như sau:

Vừa qua, nhiều quan chức cao cấp Mỹ liên tiếp có các phát biểu chỉ trích chính sách của Trung Quốc trong vấn đề "Nam Hải" (Biển Đông): Ngày 13/7, Ngoại trưởng Pompeo ra tuyên bố viện dẫn phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông, cho rằng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với một bộ phận đảo đá thuộc quần đảo "Nam Sa" (Trường Sa) và yêu sách quyền lợi bao trùm đối với nguồn tài nguyên ở hầu hết Biển Đông là "hoàn toàn bất hợp pháp"; ngày 14/7, Trợ lý Ngoại trưởng David Stilwell phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ (CSIS) nhắc lại quan điểm của Ngoại trưởng Pompeo và chỉ trích các chính sách cụ thể của Trung Quốc như dùng tham vấn COC để gây áp lực với các nước ASEAN, chủ trương "cùng khai thác" là nhằm "độc chiếm" nguồn tài nguyên dầu khí tại Biển Đông; ngày 21/7, Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper phát biểu tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế London (IISS) cũng chỉ trích Trung Quốc vi phạm Tuyên bố DOC, đe dọa hòa bình ổn định của khu vực, âm mưu xây dựng "đế chế hàng hải" tại Biển Đông.

Hàng không mẫu hạm Mỹ Theodore Roosevelt thăm Đà Nẵng .Nguồn: bbc.com

Bài viết cho rằng, các phát biểu nói trên của quan chức Mỹ không phải là chân tướng sự thật của vấn đề Biển Đông, chỉ là những "lời nói dối xấu xa" được biên tập ngụy tạo để đánh lừa dư luận, gây áp lực đối với Trung Quốc. Nêu một số lập luận như sau:

- Về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với bãi "Hoàng Nham" (Scarborough), bãi "Mỹ Tế" (đá Vành Khăn/Mischief Reef) và bãi ngầm "Tăng Mẫu" (James Shoal)

Cho rằng Ngoại trưởng Mỹ đã cân nhắc kỹ khi chọn nêu các thực thể này, bởi Mỹ tin rằng đây là những thực thể trên biển không thể tồn tại yêu sách chủ quyền, cho nên tuyên bố của Mỹ vừa không thể hiện sự thay đổi chính sách "không có lập trường" đối với vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, vừa bôi nhọ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc và thể hiện sự ủng hộ đối với các nước có tranh chấp với Trung Quốc. Trên thực tế, vụ kiện Tòa Trọng tài Biển Đông đã tồn tại một loạt sai phạm về vấn đề thẩm quyền tài phán, thẩm quyền thụ lý, việc xác định và định tính đối với tranh chấp; lấy danh nghĩa là giải thích và áp dụng UNCLOS 1982 nhưng thực tế đã liên tiếp vi phạm các nguyên tắc và tinh thần của UNCLOS 1982, làm tổn hại đến tính công minh và tính hoàn chỉnh của thể chế luật pháp quốc tế về biển.

Cho rằng yêu sách từ trước đến nay của Trung Quốc là yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa, bao gồm cả quần đảo và các bộ phận liên quan. Căn cứ theo Điều 46 UNCLOS 1982 và luật pháp quốc tế thông thường, khái niệm "quần đảo" không chỉ có các đảo đá, mà còn bao gồm cả "vùng biển tiếp giáp hoặc các địa hình tự nhiên khác". Trung Quốc chưa bao giờ nêu yêu sách quyền lợi biển đơn lẻ đối với một thực thể địa lý như bãi "Nhân Ái" (bãi Cỏ Mây/Second Thomas Shoal), bãi "Mỹ Tế" (đá Vành Khăn/Mischief Reef) hay bãi ngầm "Tăng Mẫu" (James Shoal), các thực thể này đều là một bộ phận cấu thành về mặt địa lý tự nhiên của quần đảo Trường Sa. Philippines đã cố ý phân tách các thực thể địa lý của quần đảo Trường Sa, "đóng gói" riêng lẻ để trở thành vấn đề tranh chấp về việc giải thích và áp dụng UNCLOS 1982. Thực tế đây là một kiểu lạm dụng tố tụng. Tòa Trọng tài đã lý giải sai yêu sách Biển Đông của Trung Quốc, nhận định sai về tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines là về vấn đề địa vị pháp lý và quyền lợi biển của một số thực thể địa lý đơn lẻ tại Biển Đông. Do đó việc Trung Quốc không chấp nhận, không thừa nhận phán quyết của Tòa Trọng tài chính là thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982.  

Nếu Mỹ muốn thể hiện sự tôn trọng đối với luật pháp quốc tế như Mỹ tuyên bố, trước hết Mỹ cần phải phê chuẩn tham gia UNCLOS 1982, đồng thời phải sửa đổi các yêu sách biển của mình theo các quy định của UNCLOS 1982, như lập tức rút lại yêu sách vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý đối với các đảo có diện tích nhỏ, không có dân cư sinh sống ổn định và không thể duy trì đời sống kinh tế độc lập như đảo Johnston hay đảo Wake, xem xét lại toàn diện tình hình các đảo ngoài đại dương như quần đảo Hawaii, đảo Guam, xem liệu có đáp ứng đầy đủ các quy định chặt chẽ nêu tại Điều 121 UNCLOS 1982 về quy chế đảo. Mỹ với tư cách là siêu cường quốc biển duy nhất trên thế giới hiện nay, cần đi đầu thu hẹp các yêu sách của mình về vùng đặc quyền kinh tế để làm gương cho cộng đồng quốc tế. Đáng chú ý là tuyên bố của ông Pompeo đã nhấn mạnh, phán quyết Tòa Trọng tài chỉ có tính ràng buộc đối với hai nước Trung Quốc và Philippines, đây chính là ý đồ nhằm tránh "mua dây buộc mình" của Mỹ.    

- Về cái gọi là "tham vấn COC là thủ đoạn của Trung Quốc nhằm gây áp lực và bắt nạt các nước ASEAN"

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Stilwell trong phát biểu ngày 14/7 đã chỉ trích Trung Quốc gây áp lực đối với các nước ASEAN trong tiến trình tham vấn COC, ý đồ của Trung Quốc là nhằm cắt đứt mối liên hệ về kinh tế và quân sự của các nước láng giềng với các nước ngoài khu vực, việc đặt ra thời hạn hoàn thành tham vấn COC trong năm 2021 là biểu hiện của chủ nghĩa bá quyền. Phát biểu này của ông Stilwell đã cho thấy rõ là Mỹ không muốn nhìn thấy các bên đạt được COC, mục đích là nhằm chia rẽ quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN.

Tham vấn COC được khởi động lại từ tháng 9/2013, đến nay đã trải qua 18 lần họp SOM và 30 lần họp cấp làm việc, đặc biệt là trong 3 năm trở lại đây đã đạt được nhiều tiến triển quan trọng. Tháng 4/2016 thiết lập "Đường dây nóng quan chức cao cấp xử lý tình huống khẩn cấp trên biển Trung Quốc - ASEAN", "Đường dây nóng tìm kiếm cứu nạn trên biển Trung Quốc - ASEAN"; tháng 5/2017 đạt được văn kiện khung COC; tháng 8/2018 đạt được văn bản đơn nhất tham vấn COC; tháng 7/2019 hoàn thành sớm lượt đọc lần thứ nhất đối với văn bản đơn nhất tham vấn COC. Tôn chỉ mục đích của COC là nhằm duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông, sớm đạt được COC là nhận thức chung của Trung Quốc và các nước ASEAN. Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36 ngày 27/6/2020 vừa qua đã nhấn mạnh, ASEAN cảm thấy hài lòng về tiến triển hiện nay của tham vấn và mong đợi sớm đạt được COC.   

Trong khi đó, Mỹ đã liên tục điều chỉnh thái độ đối với COC, từ chỗ hối thúc các bên sớm đạt được COC, đến nhấn mạnh quan ngại của Mỹ với tư cách là bên thứ ba và tiếp đến là tỏ ra không mong muốn nhìn thấy các bên đạt được COC trong năm tới. Ông Stilwell tỏ quan ngại tham vấn COC sẽ làm tổn hại đến lợi ích "tự do hàng hải" của Mỹ và các nước khác. Tuy nhiên "tự do hàng hải" chỉ là cái cớ, thực chất là Mỹ lo ngại COC nếu đạt được sẽ làm hạn chế sự hiện diện quân sự cũng như làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của Mỹ tại khu vực, khi mà nhiều tập đoàn dầu khí của Mỹ đang có các hợp đồng khai thác với Việt Nam, Malaysia và Brunei; ngoài ra, điều Mỹ lo ngại nhất là Trung Quốc sẽ nắm được quyền chủ đạo trong việc xây dựng các quy tắc ở khu vực Biển Đông. Mỹ kêu gọi COC cần có tính minh bạch và cởi mở, chính là nhằm can dự vào tiến trình tham vấn, nhúng tay vào các công việc ở Biển Đông.

- Về cái gọi là "chủ trương "cùng khai thác" là nhằm mục đích độc chiếm tài nguyên dầu khí ở Biển Đông"

Ông Stilwell cho rằng Trung Quốc đe dọa các công ty dầu khí ngoài khu vực, làm gia tăng rủi ro đầu tư bằng các hoạt động bố trí lực lượng quân sự, dân binh trên biển và các giàn khoan dầu khí khổng lồ, khiến cho các nước ven Biển Đông chỉ có lựa chọn hợp tác với Trung Quốc nếu như muốn khai thác nguồn tài nguyên dầu khí gần bờ của mình.

Mọi người đều biết rằng, từ thập niên 80 của thế kỷ XX, trước khi UNCLOS 1982 có hiệu lực, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã đề xuất chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác", mục đích là đưa ra một dàn xếp tạm thời để các bên tranh chấp cùng xây dựng tin cậy, cùng thăm dò và khai thác tài nguyên dầu khí trong vùng biển có tranh chấp, trước khi vấn đề tranh chấp được giải quyết triệt để. Thực tiễn quốc tế đã cho thấy, nhiều quốc gia có tranh chấp đã tiến hành cùng khai thác tại vùng biển tranh chấp, qua đó phát huy vai trò quan trọng góp phần xử lý tranh chấp trên biển và sử dụng các nguồn tài nguyên biển tại các khu vực chưa phân định. Ví dụ như Anh và Argentina hợp tác cùng khai thác tại vùng biển quần đảo Falkland/Malvinas; Thái Lan và Malaysia hợp tác cùng khai thác trong Vịnh Thái Lan v.v..   

Các quan chức Mỹ như Pompeo, Stilwell cho rằng tài nguyên dầu khí ở vùng biển Trường Sa thuộc về các nước xung quanh như Việt Nam, Philippines; mọi yêu sách tài nguyên dầu khí của Trung Quốc tại vùng biển này đều là "phi pháp". Phát biểu của các quan chức này vẫn dựa vào phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài. Nhưng cho dù là Tòa Trọng tài hay bất cứ quốc gia tranh chấp nào có tìm cách phủ định đi chăng nữa, thì việc "Trung Quốc có yêu sách chủ quyền và quyền lợi biển tại quần đảo Nam Sa" vẫn là một sự thật khách quan. Trước khi vấn đề phân định vùng biển được giải quyết, bất kỳ hành động khai thác đơn phương nào trong vùng biển có tranh chấp xâm phạm lợi ích và quyền chủ quyền của của bên kia, đều vi phạm Điều 74 và Điều 83 UNCLOS 1982, có thể làm ảnh hưởng đến kết quả phân định vùng biển sau này.       

Trung Quốc luôn duy trì kiềm chế, chưa tiến hành hoạt động khai thác dầu khí tại Biển Đông. Thúc đẩy cùng khai thác tại vùng biển có tranh chấp là phù hợp với luật pháp quốc tế, phù hợp với thực tế của khu vực, mục đích nhằm xây dựng môi trường hợp tác trên biển tốt đẹp, xây dựng tin cậy có lợi cho việc giải quyết phân định vùng biển. Tháng 11/2018, Chính phủ hai nước Trung Quốc và Philippines đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác cùng khai thác dầu khí trên biển; tháng 8/2019, hai nước thiết lập cơ chế Ủy ban liên hợp chỉ đạo hợp tác dầu khí và Nhóm công tác giữa doanh nghiệp hai nước.

Ngoài thúc đẩy hợp tác cùng khai thác, Trung Quốc cũng nỗ lực thực hiện Điều 6 DOC, thúc đẩy hợp tác trên biển, cùng với các nước ASEAN xây dựng tin cậy, triển khai hợp tác trên nhiều lĩnh vực như nuôi trồng nghề cá, bảo vệ môi trường, thực thi pháp luật trên biển, các lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Năm 2016 đã thiết lập Đường dây nóng quan chức cao cấp Trung Quốc - ASEAN; tháng 10/2017, Trung Quốc và 7 nước ASEAN đã tiến hành hoạt động diễn tập liên hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển. Biển Đông với diện tích 3,5 triệu km2, là vùng biển không ai có thể độc chiếm được. Các quốc gia ven Biển Đông sẽ củng cố hòa bình, ổn định ở Biển Đông bằng những thành quả hợp tác thực chất trên biển, cũng sẽ cùng nhau xây dựng một trật tự và quy tắc của khu vực. Trong thời gian còn lại của năm 2020, Mỹ sẽ tiếp tục lợi dụng vấn đề Biển Đông để chèn ép đối với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc và các nước ASEAN không nhìn nhận rõ những mưu đồ đổi trắng thay đen của Mỹ thì Biển Đông sẽ ngày càng xa rời hòa bình và ổn định.   

Trong một diễn biến khác, sau tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ về Biển Đông hôm 13/7 và việc tổng lãnh sự quán hai nước đóng cửa, quan hệ Trung – Mỹ đang diễn biến xấu đi khiến các học giả và giới bình luận lo ngại về một cuộc "chiến tranh lạnh mới" giữa hai nước. Điều thú vị và không mấy ngạc nhiên là việc Australia, một đồng minh quan trọng của Mỹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với "quyền lịch sử" hoặc "quyền và lợi ích biển" tại Biển Đông không phù hợp với UNCLOS 1982. Trong lịch sử giao lưu giữa Trung Quốc và Australia, đây có thể là tuyên bố ngoại giao cứng rắn nhất của Canberra đối với Trung Quốc kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972.

 Trong khi, mọi con mắt đều đổ dồn vào quan hệ Trung – Mỹ đang xuống cấp, quan hệ Trung – Australia trên thực tế đang trải qua giai đoạn rét đột ngột chưa từng có tiền lệ. Là một quốc gia không có tuyên bố chủ quyền và nằm ngoài phạm vi thuộc quyền tài phán, Australia từ lâu lo ngại về tự do hàng hải, hòa bình và ổn định ở Biển Đông, giữ thái độ kín kẽ và trung lập. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, lập trường của Canberra về vấn đề Biển Đông đã có sự thay đổi không nhỏ, công khai hơn và có tính can thiệp hơn. Ở cấp độ ngoại giao, Australia nêu quan ngại về các hành động của Trung Quốc; ở cấp độ hoạt động hàng hải, ngoài việc cử các tàu chấp pháp đến Biển Đông và thăm viếng các quốc gia láng giềng, Australia thường xuyên tiến hành tập trận chung với Mỹ và Philippines ở Biển Đông.

Việc gửi công hàm lên Liên hợp quốc đánh dấu việc Canberra từ bỏ hoàn toàn lập trường trung lập về các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên biển ở Biển Đông. Thực tiễn quốc tế thông dụng cho thấy phần lớn các quốc gia không có tuyên bố chủ quyền đều duy trì sự trung lập. Là bên thứ ba không có lợi ích trực tiếp và thiếu sự hiểu biết đầy đủ về lịch sử và tình hình thực tiễn, mọi tuyên bố không phù hợp ngoài việc ảnh hưởng đến uy tín quốc tế của chính mình, còn có thể gây tổn hại quan hệ giữa các quốc gia liên quan cũng như trật tự quốc tế. Anh gần đây tuyên bố loại bỏ các thiết bị 5G của Tập đoàn Hoa Vi một phần xuất phát từ lý do địa chính trị khi bị thúc ép bởi chính quyền Tổng thống Trump. Do đó, có thể có lý khi cho rằng, Australia – một đồng minh truyền thống khác của Mỹ - sẽ theo đuôi Mỹ trong lập trường về Biển Đông. Việc Australia chọn bên trong tranh chấp ở Biển Đông không phải vì nước này tôn trọng các giá trị của luật quốc tế hay lý tưởng về sự công bằng, mà xuất phát từ những tính toán chính trị thực dụng.

Sự suy giảm tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Australia đã bộc lộ rõ trong thời gian qua và dần ảnh hưởng đến quan hệ song phương giữa hai nước. Trong tháng 4, Australia ủng hộ điều tra độc lập về nguồn gốc của Covid-19 và Trung Quốc đáp trả bằng việc cấm nhập khẩu và áp thêm thuế đối với các sản phẩm thịt và lúa mạch của Australia và ra cảnh báo công dân không du lịch và học tập tại Australia. Sau khi luật an ninh quốc gia cho Hồng Công được thông qua, Australia đình chỉ hiệp ước dẫn độ tội phạm với đặc khu hành chính Hồng Công và đầu tháng 7, tàu chiến Australia hoạt động trên Biển Đông đã chạm trán tàu hải quân Trung Quốc ở vùng nước gần quần đảo Trường Sa. Quan hệ Trung Quốc – Australia xuống mức thấp như hiện nay là một điều đáng tiếc. Australia chủ yếu quan ngại đến tự do hàng hải. Việc các hoạt động này trong khu vực thời gian qua không bị ảnh hưởng chứng tỏ sự chuyển hướng chính sách của Canberra rõ ràng xuất phát chủ yếu từ nỗ lực của nước này trong việc duy trì và cung cố trật tự khu vực do Mỹ dẫn dắt trên nền tảng khuôn khổ một liên minh Châu Á – Thái Bình Dương./.    

Sở Ngoại vụ tổng hợp từ các báo

 


Tin liên quan
Việt Nam khẳng định không dùng chính sách tỷ giá để tạo lợi thế cạnh tranh trong thương mại quốc tế    30/10/2020
Quan hệ thương mại Australia - Trung Quốc tiếp tục chao đảo với cuộc chiến chống bán phá giá    30/10/2020
Hội nghị gặp gỡ doanh nhân kiều bào vì sự phát triển TP. HCM và các tỉnh, thành phía Nam    29/10/2020
Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 27/10/2020)    28/10/2020
Việt Nam sẽ trở thành “con hổ Châu Á” tiếp theo sau Trung Quốc    28/10/2020
Báo chí Trung Quốc bình luận về sức hấp dẫn của Việt Nam trong thu hút FDI toàn cầu    27/10/2020
Các nước hỗ trợ nhân đạo cho Việt Nam ứng phó lũ lụt ở miền Trung    27/10/2020
Trung Quốc ban hành “Luật kiểm soát xuất khẩu” để tăng cường quản lý các hoạt động thương mại vì mục tiêu an ninh và lợi ích quốc gia    26/10/2020
Thông báo tuyển dụng của Bộ Ngoại giao    26/10/2020
Định hình mới về chính sách Trung Quốc đối với 5 nước ASEAN sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Vương Nghị    23/10/2020

Liên kết Liên kết