Truy cập nội dung luôn

Thỏa thuận quốc tế Thỏa thuận quốc tế

Liệu Việt Nam có thể thay thế vị trí “Công xưởng thế giới” của Trung Quốc?

Những doanh nghiệp chuyển dịch đến Việt Nam không phải là toàn bộ ngành nghề mà chỉ là một khâu trong chuỗi ngành nghề, chủ yếu là những khâu có nhu cầu thấp và chi phí nhân công chiếm tỷ trọng cao trong chuỗi cung ứng, thường là khâu lắp ráp cuối cùng. Thập kỷ 90 thế kỷ trước, hơn 70% thương mại giữa các nước là giao dịch thành phẩm, nghĩa là toàn bộ sản phẩm do một quốc gia hoàn thành sản xuất, nhưng từ năm 2018, trên 70% đều là giao dịch bán thành phẩm, linh phụ kiện, sản phẩm hoàn thành do nhiều quốc gia tham gia sản xuất. Trước đây nếu một doanh nghiệp dời đi đồng nghĩa toàn bộ các công đoạn sản xuất chuyển đi, còn hiện nay thì phải nghĩ xem công đoạn nào dời đi. Chẳng hạn trường hợp Sam Sung chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam, trên thực tế chỉ là chuyển dịch khâu lắp ráp cuối cùng còn các khâu phía trước vẫn phụ thuộc lớn vào Trung Quốc. Trong thời gian tới, việc mạng lưới chuỗi cung ứng dần rời khỏi Trung Quốc rất khó xảy ra do chuỗi cung ứng là một hệ thống, không phải có nhà máy là sẽ có chuỗi cung ứng. Trước đây, các phân xưởng của một doanh nghiệp hoàn thành hết các công đoạn sản xuất, hiện nay những phân xưởng này đã đứng độc lập thành các nhà máy mới và hình thành nên mạng lưới rộng lớn. Do đó, khi nói đến vấn đề chuyển dịch của ngành chế tạo, phải tìm hiểu đó là sự chuyển dịch của nhà máy đơn lẻ hay là toàn bộ mạng lưới. Mạng lưới chuỗi cung ứng không phải là sự tập hợp đơn giản của nhiều nhà máy mà cần sự phối hợp của cơ sở hạ tầng xung quanh như lưu thông hàng hóa, điện, nước và các loại hình dịch vụ công cộng khác. Về mặt này năng lực của Việt Nam kém xa Trung Quốc, không thể vận hành như một hệ sinh thái. Cụ thể: khả năng lưu thông hàng hóa thấp; Việt Nam không có công nghiệp nặng, trong khi đó công nghiệp nặng là nền tảng của kinh tế công nghiệp hiện đại; Việt Nam không có đủ công nhân lành nghề, cho nên nếu có máy móc cũng không làm ra sản phẩm. Ngoài ra, sự vận hành của mạng lưới chuỗi cung ứng không chỉ có phần cứng mà còn có phần mềm, chẳng hạn như tố chất của sức lao động. Lao động phức tạp không phải là kết quả của lao động đơn giản cộng lại, lao động phức tạp phụ thuộc vào tay nghề của người lao động. Điều này phải qua quá trình đào tạo tích lũy lâu dài mới có được.

Trả lời câu hỏi vì sao Việt Nam không phát triển được công nghiệp nặng, Giáo sư Thi Triển cho rằng, công nghiệp nặng đòi hỏi đầu tư lớn trong khi tỷ lệ thu hồi thấp, khả năng tạo việc làm thấp, trong khi các nước đi sau thì ít vốn và nhiều lao động. Muốn phát triển công nghiệp nặng doanh nghiệp phải dựa vào sự hỗ trợ lớn của chính phủ. Vậy Việt Nam có dựa vào chính phủ để phát triển công nghiệp nặng không? Câu trả lời là rất khó. Hiện nay rất nhiều nhà máy chuyển dịch sang Việt Nam do điều kiện thương mại của Việt Nam tốt, các nước phương Tây muốn hợp tác với Việt Nam và điều kiện là Việt Nam phải đảm bảo kinh tế thị trường tự do, điều đó nghĩa là cơ hội phát triển công nghiệp nặng nhờ trợ giúp của chính phủ gần như không có. Nếu Việt Nam từ bỏ kinh tế thị trường tự do, phát triển công nghiệp nặng dựa vào chính phủ thì điều kiện thương mại tốt của Việt Nam sẽ không còn nữa, động lực để ngành chế tạo của các nước chuyển sang đó cũng không còn nữa. Cân nhắc lựa chọn, nhiều khả năng Việt Nam sẽ lựa chọn kinh tế thị trường tự do.

Có hai lý do doanh nghiệp chuyển ra khỏi Trung Quốc để đến Việt Nam. Thứ nhất, giá thành lao động Việt Nam thấp, tuy nhiên Việt Nam thiếu lao động lành nghề, do đó xét về giá thành thì lao động lành nghề không rẻ so với Trung Quốc. Thứ hai là môi thường thương mại tốt hơn. Rất nhiều doanh nghiệp là vì nguyên nhân thuế quan, lãnh đạo một số doanh nghiệp nói rằng nếu không có chiến tranh thương mại Trung-Mỹ thì không chuyển sang Việt Nam bởi phải bỏ ra thêm rất nhiều chi phí quản lý và còn các vấn đề về con người, ngôn ngữ, văn hóa.

Đánh giá về loại hình ngành nghề chuyển dịch khỏi Trung Quốc, theo Giáo sư Thi Triển, ngành nghề nào cũng có, những doanh nghiệp kỹ thuật cao chuyển đi chủ yếu các khâu kỹ thuật thấp trong chuỗi sản xuất. Những ngành nghề có độ phức tạp cao, chi phí lao động chiếm tỷ trọng thấp thì không chuyển dịch, đa phần chuyển dịch là những ngành nghề độ phức tạp thấp, chi phí lao động tỷ trọng cao. Về mặt nào đó thì những ngành đó cũng nên chuyển đi. Còn những ngành độ phức tạp cao và lao động chiếm tỷ trọng cao chuyển dịch hay không thì tùy thuộc vào thị trường, chẳng hạn sản phẩm sau cùng xuất đi châu Âu mà không phải là Mỹ thì sẽ không chuyển đi, nếu chuyển dịch thì điểm đến của họ phải gần Trung Quốc vì phải kết hợp với chuỗi cung ứng của Trung Quốc thì mới đạt hiệu suất cao.

Covid-19 được xem như "cơn bão hoàn hảo" để chuỗi cung ứng hướng tới Việt Nam ngày càng mạnh mẽ. Nguồn: Internet

Dự báo về khả năng thay đổi sắp tới của chuỗi cung ứng toàn cầu do ảnh hưởng của dịch bệnh, Giáo sư này cho rằng đa số ngành nghề không chuyển ra khỏi Trung Quốc, vì phần lớn ngành nghề không liên quan đến an toàn, đều xem xét từ góc độ giá thành, còn những ngành nghề liên quan đến an toàn khả năng sẽ chuyển đi nhưng tỷ lệ những ngành này trong toàn bộ ngành chế tạo chiếm tỷ lệ không lớn. Tuy nhiên, một vấn đề hết sức quan trọng, đó là những ngành liên quan đến an toàn đều là những ngành thuộc kỹ thuật dẫn dắt, các nước phương Tây sau khi xây dựng lại các ngành này khả năng sẽ hình thành nên hệ thống sản xuất song song với Trung Quốc. Khả năng chuyển đổi kỹ thuật của phương Tây mạnh hơn Trung Quốc rất nhiều, sau vài năm có thể sẽ có sự thay đổi kỹ thuật mới, khả năng Trung Quốc sẽ không theo kịp, đến lúc đó thật sự là vấn đề./.

Sở Ngoại vụ tổng hợp tin các báo

 


Tin liên quan
Cần xây dựng lòng tin để khôi phục lại đầu tư và thương mại toàn cầu!    07/08/2020
Biển Đông nổi sóng với cuộc chiến công hàm 2.0    07/08/2020
Mỹ - Trung thống nhất họp đánh giá kết quả thực hiện thỏa thuận thương mại giai đoạn 1    07/08/2020
Hạ tầng giao thông biên giới kết nối thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại Việt - Trung    07/08/2020
Kinh tế Việt Nam cần động lực mới để phục hồi nhanh    07/08/2020
ASEAN và việc hóa giải mâu thuẩn ở Biển Đông    07/08/2020
Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu đầu vào lớn nhất từ Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm    07/08/2020
Cục diện Biển Đông cần sự kìm chế của các nước lớn!    05/08/2020
Việt Nam và Hoa Kỳ đẩy mạnh xây dựng lòng tin    05/08/2020
Cục diện Biển Đông nhìn từ quan điểm của các học giả Trung Quốc    05/08/2020

Liên kết Liên kết

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

  Đang truy cập : 1
  Hôm nay: 168
  Tổng lượt truy cập: 78841