Truy cập nội dung luôn

Hợp tác thương mại Hợp tác thương mại

Các dự án thủy điện trên dòng Mekong cần xem xét lại để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

Khi Trung Quốc tái nổi lên trở thành siêu cường toàn cầu, ảnh hưởng kinh tế và chính trị của nước này lan tỏa tới nhiều phần của thế giới. Khu vực sông Mê Công không phải là ngoại lệ. Được xem là khu vực ảnh hưởng tự nhiên truyền thống của Trung Quốc, Đông Nam Á lục địa đã chứng kiến sự nổi lên của Trung Quốc thành một tay chơi toàn cầu lớn và một "quyền lực tối cao" trong khu vực. Xét đến những cơ hội kinh tế mà khu vực đang công nghiệp hóa này mang lại, cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có chưa được khai thác, các nước sông Mê Công trở nên thu hút với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc, và còn nằm ở vị trí địa lý sân sau thuận lợi của nước này. Nhưng dù đầu tư của Trung Quốc tới cùng với những hứa hẹn hiện đại hóa và phát triển kinh tế, thì chúng cũng bị buộc tội rộng rãi là làm tồi tệ hơn những vấn đề đầy rẫy trong khu vực về phát triển không đồng đều và mất công bằng môi trường.

Các nước sông Mê Công nổi tiếng là lỏng lẻo trong quản trị môi trường và xã hội, thiếu minh bạch và tham nhũng tràn lan. Điều này có nghĩa là các chính phủ khu vực thường phê duyệt các dự án đầu tư và phát triển mà ít biện pháp bảo vệ. Sẽ không cường điệu nếu cho rằng sự phát triển của khu vực là dựa vào khai thác tài nguyên. Là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Campuchia, Lào và Myanmar, các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng Trung Quốc đã đầu tư vào những lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế các nước Mê Công, đặc biệt đáng chú ý là các lĩnh vực tài nguyên, hạ tầng và năng lượng. Sự thâm nhập của dòng đầu tư Trung Quốc tạo ra cả sự hăng hái và sự e sợ: chính phủ Lào có thể chào mừng đầu tư Trung Quốc đóng góp vào phát triển kinh tế và tạo việc làm, còn đảng đối lập lớn nhất ở Campuchia (SRP) lại coi việc Trung Quốc khai thác tài nguyên của Campuchia là một "khoản đầu tư tồi".

Đập thủy điện Hạ Sesan 2 tại tỉnh Stung Treng ở Campuchia được xây trên sông Tonle San, phụ lưu lớn của sông Mê Kông. Ảnh: AFP.

Trong bối cảnh hoạt động kinh tế của Trung Quốc tiếp tục mở rộng tại khu vực, nhiều câu hỏi được đặt ra về mức độ dính líu của các nhà đầu tư và nhà thầu Trung Quốc làm trầm trọng hơn các vấn đề quản trị tại các nước sông Mê Công, đặc biệt ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột. Các dự án gây tranh cãi như đường ống dầu, khí Trung Quốc - Myanmar tại bang Rakhine là một ví dụ. Trong khi các tiêu chuẩn và quy định toàn cầu về đầu tư và kinh doanh có trách nhiệm vẫn phổ biến và tự nguyện, thì tại sao, trong bối cảnh thiếu vắng các tiêu chuẩn ràng buộc pháp lý và pháp quyền yếu của các nước Mê Công, chính phủ và các công ty Trung Quốc lại đưa vào ngôn ngữ "kinh doanh có trách nhiệm" vào các khuôn khổ đầu tư và pháp lý? Điều này lại đặt ra câu hỏi các nhà đầu tư Trung Quốc phản ứng như thế nào trước các sức ép từ bên ngoài phải thông qua các chính sách tuân thủ tốt hơn các mong đợi về trách nhiệm doanh nghiệp cũng như những nhân tố buộc các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc phải thực hiện hành vi kinh doanh có trách nhiệm hơn.

Nghiên cứu về sự phát triển thủy điện do Trung Quốc tài trợ tại các nước Campuchia, Lào và Myanmar, có thể tạo sức ép buộc các nhà xây dựng đập Trung Quốc phải hành xử có trách nhiệm hơn. Câu trả lời cho các câu hỏi này đến từ các cơ quan sở tại và ảnh hưởng của các mạng lưới dân sự xuyên quốc gia trong khu vực. Được hình thành đầu tiên bởi các nhóm xã hội dân sự cơ sở, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức liên chính phủ, các nhà hoạt động này đứng ở tuyến đầu trong việc thách thức mô hình phát triển truyền thống mà các chính phủ khu vực đang bám lấy, vốn đánh đồng tăng trưởng với phát triển. Họ soi sáng lại ảnh hưởng sinh thái của các dự án thủy điện lớn đối với khu vực. Các chiến dịch của các nhóm xã hội dân sự địa phương, cùng với các tổ chức phi chính phủ nổi bật trong lĩnh vực nguồn nước như: Tổ chức quốc tế các dòng sông, Tổ chức quyền trái đất, Mạng lưới các dòng sông Myanmar, Liên minh bảo vệ sông Mê Công... đã chứng tỏ tầm quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của công luận, đòi hỏi trách nhiệm, và làm cho các nhà đầu tư và nhà thầu Trung Quốc phải nhạy cảm hơn đối với các trách nhiệm môi trường và xã hội.

Tạo ra một mối liên hệ nhân quả giữa hoạt động của các nhóm xã hội dân sự và mạng lưới dân sự xuyên quốc gia với các thay đổi trong chính sách của doanh nghiệp và chính phủ là một nhiệm vụ không hề đơn giản. Xét đến những hạn chế chính trị đáng kể mà các nhóm xã hội dân sự Trung Quốc phải đối mặt trong nước, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để trông đợi các xã hội dân sự tại các nước chủ nhà, vốn cũng phải chịu các điều kiện chặt chẽ tương tự, có thể tác động đến các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc hay các chính phủ liên quan.

Về các hoạt động dân sự xuyên quốc gia trong khu vực Mê Công

Từ những phân tích trên, có thể rút ra 5 nhận xét:

Thứ nhất, cần có sự tồn tại của mạng lưới các hoạt động dân sự xuyên quốc gia ngày càng phát triển. Các nhóm này cần phối hợp với nhau và với các nhóm "lưu vong", đặc biệt trong thu thập thông tin cập nhật về diễn biến xây đập, vốn nhạy cảm và khó tiếp cận của các đập do Trung Quốc xây dựng. Đôi khi, các tổ chức này còn phải lấy thông tin từ chính các quan chức hoặc nhân viên trong các công ty Trung Quốc.

Thứ hai, cần gắn việc xây đập với các vấn đề môi trường và xã hội cấp bách để thu hút sự chú ý của công luận trong và ngoài nước, biến vấn đề sở tại thành vấn đề khu vực và quốc tế, gắn các dự án thủy điện lớn với các câu hỏi về các bất ổn tiềm năng từ việc Trung Quốc nổi lên. Việc này có vai trò mũi nhọn của các tổ chức phi chính phủ sở tại và quốc tế. Các tổ chức này có thể vượt ra khỏi phạm vi quốc gia sở tại, vươn tới chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc, đề cập đến vấn đề "thể diện" khi Trung Quốc không tuân thủ các tập quán đầu tư tiêu chuẩn, nhất là khi gần đây Trung Quốc đang chú trọng xây dựng sức thu hút quyền lực mềm và hình ảnh một siêu cường có trách nhiệm. Gắn với các vấn đề địa chính trị rộng hơn như Mỹ - Trung gia tăng cạnh tranh, càng có nhiều động cơ để chính phủ Trung Quốc phải kiềm chế các việc làm quá đáng của các doanh nghiệp nhằm duy trì quan hệ tốt với các nước sở tại trong khu vực.

Thứ ba, mặc dù hoạt động của các mạng lưới xã hội dân sự trong các trường hợp trên không nhằm giành quyền lực chính trị mà chỉ duy trì cân bằng trong xã hội, nhưng các mạng lưới này cũng đã nâng cao được mức độ hợp pháp xã hội và có thẩm quyền đạo đức đối với các đối phương (nhà nước và các nhà đầu tư Trung Quốc). Một mặt, các nhóm này điều chỉnh lại vai trò và trách nhiệm của các doanh nghiệp thủy điện Trung Quốc, mặt khác làm rõ bản sắc của chính mình, là "người bảo vệ" trên thực tế.

Thứ tư, vì việc phản đối các đập chủ yếu xảy ra ở các nước độc tài, nên bối cảnh chính trị - xã hội vẫn là nhân tố then chốt tác động tới bản chất và phạm vi các hoạt động dân sự xuyên quốc gia. Tình trạng hạn chế chặt chẽ ở Lào không nghi ngờ gì đã ảnh hưởng đến mức độ của các hoạt động ở cấp cơ sở, thấp hơn cả Myanmar và Campuchia. Các mạng lưới xuyên quốc gia có thể hữu dụng, khiến các tổ chức cấp cơ sở tránh sự áp đặt của nhà nước và liên kết với các đối tác nước ngoài tác động đến sự thay đổi về chính sách, xã hội.

Cuối cùng, hoạt động phản đối của các mạng lưới xuyên quốc gia và sở tại được đưa tin trên cả các kênh chính thức và không chính thức để có ảnh hưởng trực tiếp và cả gián tiếp đến các nhà xây đập Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc và các chính phủ sở tại.

Dù các tuyên bố chính thức thường nói khác, nhưng việc chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc không có đủ biện pháp bảo vệ môi trường và xã hội tại các dự án ở nước ngoài, cùng với việc họ sẵn sàng đầu tư ở các nước có hồ sơ kém về nhân quyền và môi trường, đã khiến họ phải nhận các chỉ trích từ nước ngoài cũng như sự phản đối của các xã hội sở tại. Trong 3 trường hợp được nghiên cứu trên đây, các nhà xây đập Trung Quốc đã phải phản ứng thực chất trước sự phản đối ngày càng tăng của các nhóm dân sự cả trong và ngoài quốc gia sở tại và phải chuyển dần sang hình thức đầu tư có trách nhiệm với sinh thái. Như vậy, qua các hình thức gây ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp, có thể buộc các nhà đầu tư Trung Quốc phải tuân thủ các quy tắc kinh doanh có trách nhiệm.

Sự phản đối vẫn còn tiếp diễn đối với phát triển thủy điện ở khu vực Mê Công nêu bật nhu cầu cấp bách phải có vai trò lớn hơn của tham vấn công chúng và sự tham gia của nhiều thành phần hơn vào việc quản trị nhằm quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm. Nó cũng cho thấy có một lựa chọn khác cho việc quản trị sinh thái trong khu vực với sự hiện diện của mạng lưới dân sự xuyên quốc gia. Thay đổi không thể do bên ngoài ép buộc, phải xây dựng các mạng lưới kiến thức để có sự thay đổi từ bên trong. Các nhà hoạt động dân sự đã cho thấy ý tưởng về "quy định dân sự", như một cơ chế bổ sung cho các quy định quốc tế và nhà nước, là điều khả thi.

Các đầu tư của Trung Quốc vào thủy điện trong khu vực Mê Công cho thấy dù các quy định lỏng lẻo có thể giúp giảm chi phí và tiết kiệm thời gian xây dựng, song những lợi ích này không bù đắp được các rủi ro chính trị và sinh thái. Trong một số trường hợp cực đoan, sự phản đối lâu dài của sở tại có thể trì hoãn hoặc thậm chí dừng hoàn toàn việc xây dựng, cho thấy hình thức kinh doanh ưu tiên tiết kiệm chi phí ngắn hạn là không bền vững và có hại cho lợi ích lâu dài của doanh nghiệp.

Trung Quốc phải xem xét lại chiến lược đầu tư để đáp ứng các yêu cầu về phát triển bền vững ở khu vực Mê Công. Là một nước có độ nhạy cảm cao về hình ảnh quốc tế, Trung Quốc không nên coi nhẹ các rủi ro về danh tiếng xuất phát từ việc không tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn đầu tư kinh doanh có trách nhiệm. Việc các nhà hoạch định chính sách và đầu tư Trung Quốc ngày càng nhận thức rõ mối liên hệ giữ rủi ro kinh doanh và danh tiếng hứa hẹn sự thay đổi trong thái độ cả của doanh nghiệp cũng như chính trị.

Trong một diễn biến khác, các hoạt động của Trung Quốc trên sông Mê Công từ lâu đã bị quan ngại là gây hại cho các nước hạ nguồn. Gần đây có thêm chứng cứ mới rằng việc Trung Quốc xây đập ở thượng nguồn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng chảy con sông. Kết quả mới này đã tạo ra những phản ứng rộng khắp của các cư dân mạng toàn khu vực Đông Nam Á, làm nổi bật hành động tung hứng thăng bằng trên dây mà một số quốc gia khu vực phải đối mặt trong việc cân bằng lợi ích quốc gia với lợi ích của nước láng giềng lớn. Lượng nước từ Trung Quốc chỉ chiếm 16% tổng lượng nước sông Mê Công trong năm. Song vào mùa khô ở các nước hạ nguồn, lượng nước từ Trung Quốc có thể chiếm đến 50%, thậm chí là 70% trong hạn hán.

Tháng 2/2020, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã đổ lỗi cho hạn hán dẫn đến mực nước thấp lịch sử và tuyên bố Trung Quốc sẽ tìm cách tăng mực nước để giúp các nước sông Mê Công giảm thiểu thiệt hại của hạn hán. Ngoại trưởng Vương Nghị đang cố tạo ra hình ảnh một nước Trung Quốc nhân từ sẵn sàng giúp đỡ láng giềng trong cơn hoạn nạn. Nhưng một nghiên cứu mới đây do Bộ Ngoại giao Mỹ tài trợ đã vẽ ra một bức tranh ít màu hồng hơn, trong đó các đập của Trung Quốc, chứ không phải là thiên nhiên, là thủ phạm chính gây suy giảm mực nước. Báo cáo kết luận lưu vực thượng nguồn sông Mê Công có lượng mưa trên mức trung bình trong năm 2019. Nếu sông Mê Công không bị cản trở bởi các con đập của Trung Quốc thì các khu vực dọc biên giới Thái Lan - Lào đã có mực nước cao hơn bình thường một chút.

Ủy hội Sông Mê Công đã phản ứng về báo cáo này một cách hoài nghi. Một mặt, Ủy hội kêu gọi Bắc Kinh minh bạch hơn, mặt khác cho rằng cần có thêm các bằng chứng khoa học trước khi kết luận hạn hán 2019 có nguyên nhân chính từ việc giữ nước ở các đập thượng nguồn. Phản ứng này diễn ra theo một cách quen thuộc. Các nước Đông Nam Á và khắp nơi từ lâu đã cảm thấy sức ép không được xúc phạm Bắc Kinh. Tại Biển Đông, các nước có tuyên bố chủ quyền phản đối hành động của Trung Quốc nhưng không thể làm gì hơn. Âm hưởng của các trừng phạt kinh tế mà Bắc Kinh vận động ở Manila nhằm trả đũa tình trạng bế tắc hàng tháng trời giữa hai bên sau vụ Scarborough năm 2012 vẫn còn vang vọng trong trí óc của các Lãnh đạo chính trị tại Đông Nam Á.

Cả 5 nước dọc sông Mê Công bất đắc dĩ chứng kiến nền kinh tế của mình phụ thuộc vào Trung Quốc và sẽ phải chịu hậu quả còn nặng nề hơn nếu trở thành mục tiêu của các hành động trừng phạt. Thái Lan có tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc thấp nhất nhưng cũng chiếm đến 20%, nhiều nhất là Myanmar và Campuchia với hơn 30%. Từ năm 2010 đến 2019, Trung Quốc đầu tư tổng cộng hơn 75 tỷ USD vào 5 nước này. Gần 1/3 là vào Lào, với nỗ lực trở thành bình điện của Đông Nam Á thông qua việc xây dựng hàng chục con đập trên sông Mê Công và các phụ lưu.

Các Nhà lãnh đạo chính trị Đông Nam Á có thể cảm thấy phải bước đi nhẹ nhàng, song cư dân mạng lại không bị hạn chế như vậy. Ngay khi báo cáo mới về sông Mê Công xuất hiện, chuỗi ký tự "#StopMekongdam" đã trở thành trào lưu trên Twitter ở Thái Lan. Đây không phải lần đầu tiên người Thái phản ứng mạnh mẽ với các con đập của Trung Quốc. Tháng 2/2020, các cộng đồng sở tại và các nhóm vận động môi trường đã thành công trong việc ép Chính phủ Thái Lan dừng kế hoạch nạo vét sông Mê Công để các tàu thuyền cỡ lớn có thể lưu thông. Tuy nhiên, sự phản đối trên mạng đối với các đập của Trung Quốc nổi lên giữa hồi tháng 4/2020 xuất hiện trong bối cảnh một cuộc tấn công trên mạng rộng lớn hơn chống lại Bắc Kinh, với chuỗi ký tự "#MilkTeaAlliance" vốn trở nên phổ biến khi các cư dân mạng Thái Lan phản ứng trước cuộc tấn công của cư dân mạng Trung Quốc đối với một diễn viên Thái Lan và bạn gái bị coi là ủng hộ độc lập của Hồng Công và Đài Loan. "#MilkTeaAlliance" nhanh chóng trở thành biểu tượng của sự đoàn kết giữa những cư dân mạng Thái Lan, Hồng Công và Đài Loan cũng như ở những nơi khác trong khu vực mong muốn chống lại sức ép của Trung Quốc hoặc ít nhất vạch rõ chế độ độc tài Trung Quốc.

Không thể nói rằng một vài hình ảnh lan truyền trên mạng có thể đại diện cho những thực tiễn chính trị phức tạp mà các nước khu vực đang phải đối mặt. Song cũng là sai lầm nếu hoàn toàn bỏ qua những phát triển mới này. "#MilkTeaAlliance", dù có chủ đích hay không, cũng đã vượt ra khỏi phạm vi khu vực Đông Nam Á. Tại thủ đô Washington của Mỹ, xu hướng gia tăng chống Trung Quốc của các mạng xã hội đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của cộng đồng chính sách và đã được thảo luận một cách thầm lặng.

Đợt sóng ngầm đoàn kết trong các nước Châu Á đã nói lên ý nguyện rất thực tiễn trong khu vực muốn chứng kiến các lãnh đạo chính phủ đứng lên kháng cự lại Trung Quốc, phù hợp với các nỗ lực của Mỹ củng cố trật tự quốc tế dựa trên pháp luật chống lại sức ép của Trung Quốc. Sự phản đối các con đập của Trung Quốc cũng như "#MilkTeaAlliance" rồi sẽ trôi qua, không còn là xu hướng, nhưng sự đoàn kết nhiều khả năng sẽ còn được duy trì. Các lãnh đạo chính sách ở thủ đô Washington cần thận trọng theo dõi những gì đang xảy ra trên mạng./.

 

Sở Ngoại vụ tổng hợp tin các báo

 


Tin liên quan
Tương lai đồng USD phụ thuộc phần lớn vào khả năng của Mỹ trong việc điều chỉnh nền kinh tế hậu Covid-19    29/05/2020
Thế giới không thể nói “NO” với toàn cầu hóa    29/05/2020
Cập nhật tình hình dịch bệnh trên toàn thế giới và Công tác phòng chống đến ngày 27/5/2020    29/05/2020
Cấp thị thực điện tử cho công dân 80 nước từ ngày 1-7    28/05/2020
Có phải các chính trị gia lưỡng đảng chính trị hóa đại dịch Covid-19 để tạo lợi thế trong bầu cử tổng thống!    26/05/2020
Chuyên gia thế giới khẳng định kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi nhanh sau đại dịch Covid-19    26/05/2020
Cập nhật tình hình dịch bệnh trên toàn thế giới và Công tác phòng chống đến ngày 25/5/2020    26/05/2020
Trung Quốc xác định chính sách đối ngoại và quan hệ đối ngoại năm 2020    26/05/2020
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong trái tim nhân dân Venezuela    26/05/2020
Bạn hiểu gì về Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA?    25/05/2020

Video Video

Tất cả videos

Liên kết Liên kết

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

  Đang truy cập : 2
  Hôm nay: 42
  Tổng lượt truy cập: 40588