Truy cập nội dung luôn

TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 27/10/2020)

VỤ TỔNG HỢP KINH TẾ

-----------

BẢN TIN NGOẠI GIAO KINH TẾ
(Thứ Ba, ngày 27/10/2020)

***

Tin vắn

  • UNCTAD dự báo thương mại toàn cầu trong năm 2020 sẽ giảm từ 7% - 9%.
  • IMF dự báo tăng trưởng kinh tế châu Á sẽ giảm 2,2% trong năm 2020.
  • GDP Quý III của Mỹ dự báo có thể đạt mức tăng trưởng kỷ lục.
  • Đơn xin trợ cấp thất nghiệp của Mỹ giảm thấp nhất kể từ tháng 3/2020.
  • Kinh tế Trung Quốc phục hồi mạnh trong Quý III/2020.
  • Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc (CNY) liên tục tăng giá trong thời gian gần đây.
  • Chỉ số PMI của khu vực Eurozone suy giảm tháng thứ ba liên tiếp.
  • S&P giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm nợ của Italy và Anh.

-Nhật Bản và Anh ký Hiệp định Thương mại tự do song phương.

  • Chính phủ Campuchia phê chuẩn kế hoạch chi tiêu năm 2021.
  • FDI 5 tháng đầu năm tài khóa 2020/21 của Ấn Độ tăng so với năm 2019.

-Việt Nam nâng các tiêu chuẩn trong ngành đánh bắt cá nhằm tuân thủ theo các quy định trong khuôn khổ EVFTA

 

Bài phân tích/Tin chuyên sâu:

Global Times: Tại sao Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga lại chọn Đông Nam Á cho chuyến thăm nước ngoài đầu tiên? (21/10)

A. KINH TẾ THẾ GIỚI

  • Trong báo cáo cập nhật thương mại toàn cầu hàng quý công bố ngày 21/10, Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) dự báo thương mại toàn cầu trong năm 2020 sẽ giảm từ 7% - 9% cho dù có dấu hiệu phục hồi trong quý III/2020. Cơ quan thương mại và phát triển của Liên hợp quốc ước tính thương mại thế giới trong quý III năm nay thấp hơn khoảng 5% so với cùng kỳ năm 2019. Đáng chú ý, báo cáo của UNCTAD nêu bật sự phục hồi thương mại của Trung Quốc. Xuất khẩu của Trung Quốc, sau khi giảm trong những tháng đầu của đại dịch, đã ổn định trong quý II/2020 và phục hồi mạnh mẽ trong quý III/2020, với tốc độ tăng trưởng gần 10% (UNCTAD, 21/10).
  • Ngày 21/10, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế châu Á sẽ giảm 2,2% trong năm nay, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang tác động tiêu cực đến nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Tháng 7 vừa qua, IMF dự báo kinh tế châu Á sẽ giảm 1,6% trong năm 2020. Đối với năm 2021, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á sẽ đạt 6,9%. Tuy nhiên, ngay cả với tốc độ tăng trưởng này, GDP của toàn khu vực trong năm 2021 vẫn sẽ thấp hơn mức dự  báo được IMF đưa ra trước đại dịch. Với sự sụt giảm của lực lượng lao động và đầu tư tư nhân, GDP tiềm năng của toàn khu vực vào giữa thập kỷ có thể thấp hơn 5% so với trước đại dịch Covid-19 (IMF, 21/10).

1. Mỹ

●CNBC đưa ra dự báo khả năng số liệu GDP Quý III của Mỹ được công bố ngày 29/10 sắp tới sẽ ghi nhận mức tăng trưởng kỷ lục, lên tới 30%. Trong Quý III, nền kinh tế Mỹ đã mang trở lại 4 triệu việc làm, doanh số bán lẻ trong tháng 9 tăng 1,9%; chỉ số niềm tin trong giới điều hành doanh nghiệp trong tháng 9 đã tăng lên 64 điểm (từ 45 điểm trong tháng 8); 70% các giám đốc điều hành cho rằng điều kiện kinh tế hiện tại đã tốt hơn thời điểm 6 tháng trước (so với mức 8% vào giai đoạn đầu của Quý). Báo báo cho rằng các diễn biến tiếp theo của nền kinh tế Mỹ, trong đó có thành tựu kinh tế của Tổng thống Trump, nguy cơ suy thoái do dịch bệnh…sẽ phụ thuộc nhiều vào tình hình Quý IV chứ không phải là tình hình hiện tại. (CNBC, 20/10)

●Theo số liệu mới công bố của Bộ Lao động Mỹ, mức xin trợ cấp mới là 787.000 người, cao gấp 4 lần so với mức trước giai đoạn dịch bệnh. Cho đến nay, đã có khoảng 65 triệu người lao động Mỹ, chiếm 40% lực lượng lao động quốc gia phải tìm đến các khoản trợ cấp thất nghiệp. Đáng chú ý, số liệu của Bộ lao động cũng cho biết, hiện số người đang tiếp tục nhận trợ cấp thất nghiệp 8,37 triệu người, giảm khoảng 1 triệu người so với tuần trước đấy. Chỉ số này cho thấy các công ty đang thúc đẩy tuyển dụng trở lại. (Fox Business, 22/10)

●Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ và Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ (USTR) ngày 23/10, các điều khoản về nông nghiệp trong Thỏa thuận về kinh tế và thương mại giai đoạn Một giữa Mỹ và Trung Quốc đã đạt được tiến bộ và mang lại kết quả lịch sử cho ngành nông nghiệp Mỹ. Cho đến nay, Trung Quốc đã thực hiện ít nhất 50/57 cam kết kỹ thuật theo Thỏa thuận. Trung Quốc cũng đã tăng cường mua các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ. Tính đến nay, Trung Quốc đã mua hơn 23 tỷ USD hàng nông sản của Mỹ (ngô, đậu nành, cao lương, thịt lợn, thịt bò...), đạt khoảng 71% mục tiêu theo nội dung Thỏa thuận (ĐSQ VN tại Mỹ, 23/10)

2. Trung Quốc

●Tổng cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS) cho biết GDP của nước này đã tăng trưởng 0,7% trong 3 quý đầu năm nay so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng trong quý III/2020, mức tăng này là 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và 2,7% so với quý trước. Tỷ lệ thất nghiệp tại các đô thị theo khảo sát chính thức đã giảm xuống mức 5,4% trong tháng 9, so với mức kỷ lục 6,2% hồi tháng 2, khi đại dịch Covid-19 ở trong giai đoạn cao điểm. Thương mại toàn cầu là động lực mạnh mẽ ngoài mong đợi đối với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Bên cạnh đó, người tiêu dùng trong nước cũng đang trở nên tự tin hơn. Sự lạc quan trở lại dựa trên thành công của Trung Quốc trong việc ngăn chặn thành công đại dịch Covid-19. Tính từ đầu năm 2020 đến nay, Trung Quốc đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ cho nền kinh tế như tăng chi tiêu công, hạ lãi suất cho vay, giảm thuế và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong hệ thống ngân hàng. Chính phủ Trung Quốc cũng hạn chế vay nợ để hỗ trợ tăng trưởng, thay vào đó thực hiện các biện pháp có mục tiêu cụ thể, khác với việc bơm tiền ồ ạt như trong thời gian khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 (CNBC, Bloomberg, 24/10).

●Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc (CNY) đã liên tục tăng giá trong những phiên gần đây, sáng 21/10 đạt mức cao kỷ lục trong vòng hơn 27 tháng so với USD, do những số liệu lạc quan về nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này, cho thấy sự hồi phục bền vững sau đại dịch Covid-19. Kinh tế Trung Quốc hồi phục nhanh chóng sau đại dịch Covid-19 là động lực chính đẩy CNY mạnh lên. Yếu tố quan trọng thứ hai khiến CNY mạnh lên là chênh lệch lãi suất giữa Trung Quốc với các cường quốc khác. Kinh tế hồi phục tốt khiến Ngân hàng TW Trung Hoa không cần nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ như những ngân hàng trung ương khác, dẫn tới việc đầu tư CNY sẽ có lãi suất tiền gửi cao hơn so với đầu tư vào những đồng tiền khác như USD hay EUR. Một yếu tố nữa cũng đang tác động đến tỷ giá tiền tệ Trung Quốc, đó là cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Ý kiến chuyên gia cho rằng, nếu ông Biden đắc cử thì sẽ có một lượng tiền bơm vào nền kinh tế Mỹ lớn hơn so với việc ông Trump tái đắc cử, và điều đó sẽ gây ra áp lực giảm giá nhiều hơn đối với USD và nếu ông Biden đắc cử thì mối quan hệ thương mại Mỹ - Trung sẽ bớt căng thẳng (Reuters, 26/10).

3. Châu Âu

  • Italy đã bác bỏ thỏa thuận giữa công ty viễn thông Fastweb và tập đoàn Huawei về việc cung cấp thiết bị cho hệ thống mạng 5G của Fastweb. Quyết định nói trên được đưa ra trong một cuộc họp của Chính phủ Italy vào tối 22/10, đánh dấu lần đầu tiên nước này phủ quyết một thỏa thuận với Huawei liên quan đến việc cung cấp thiết bị cho các hệ thống mạng 5G. Tại cuộc họp, Chính phủ Italy đã sử dụng thẩm quyền phủ quyết đặc biệt để chặn đứng việc Fastweb, chi nhánh tại Italy của tập đoàn viễn thông Swisscom của Thụy Sỹ, thực hiện thỏa thuận với Huawei về cung cấp thiết bị 5G. Trước đó, Fastweb đã chọn Huawei làm nhà cung cấp duy nhất cho mạng 5G của mình. Hiện cả Huawei lẫn Fastweb đều từ chối bình luận về vấn đề này. (Reuters, 23/10)
  • Theo báo cáo của IHS Markit, chỉ số PMI của khu vực Eurozone tháng 10 giảm xuống mức 49,2 điểm, đánh dấu tháng giảm thứ 3 liên tiếp và đây cũng là mức thấp nhất trong 4 tháng qua. PMI tháng 9 của Eurozone là 50,4 điểm. Như vậy, đây là lần đầu tiên PMI của khu vực này rơi xuống ngưỡng suy giảm kể từ tháng 6/2020. Nhà kinh tế trưởng của IHS Markit cho biết hoạt động kinh tế trên toàn khu vực trở lại ngưỡng suy giảm trong tháng 10 khi sản lượng tiếp tục tăng trong khi lĩnh vực dịch vụ suy giảm nặng nề vì tâm lý lo ngại đại dịch Covid-19. Dù vậy, chuyên gia này nhận định hiện chỉ số PMI của Eurozone vẫn đang ở mức cao hơn đáng kể so với những mức thấp nhất từng được ghi nhận trong thời kỳ đỉnh điểm của làn sóng dịch đầu tiên hồi quý 2/2020. Việc PMI tiếp tục giảm cũng dẫn tới khả năng kinh tế khu vực sẽ lại suy giảm trong quý 4/2020. Theo IHS Markit, Đức là điểm sáng duy nhất, trong khi Pháp và toàn bộ phần còn lại của Eurozone tiếp tục trượt sâu hơn theo hướng suy giảm. (AFP, 23/10)
  • Cơ quan xếp hạng tín nhiệm S&P đã quyết định giữ nguyên đánh giá tín nhiệm nợ của Chính phủ Italy ở mức BBB, song nâng triển vọng nợ từ "tiêu cực" lên "ổn định". Điều này cho thấy triển vọng tài chính của Italy đang có xu hướng cải thiện để khởi động lại đà tăng trưởng kinh tế. Cơ quan này ước tính, nền kinh tế Italy sẽ suy giảm khoảng 9% trong năm nay, trước khi phục hồi 6,4% vào năm tới. Cùng ngày, S&P cũng giữ nguyên xếp hạng nợ của Anh ở mức AA với triển vọng ổn định. S&P cho rằng, sự bất ổn liên quan đến quan hệ tương lai của Anh với EU vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. S&P dự báo nền kinh tế Anh sẽ suy giảm 9,7% trong năm 2020 và không kỳ vọng nền kinh tế này sẽ phục hồi về mức của năm 2019 cho đến năm 2022 (AFP, 24/10)
  • Theo khảo sát của Standard Eurobarometer mới được công bố, tình hình kinh tế, tài chính công, vấn đề nhập cư và sức khỏe là những mối quan tâm hàng đầu của người dân Liên minh châu Âu (EU). Được thực hiện vào tháng 7 và tháng 8/2020, dựa trên ý kiến của gần 27.000 người, cuộc khảo sát cho thấy 64% người châu Âu nghĩ rằng tình hình kinh tế đang rất tồi tệ và chỉ 42% tin rằng nền kinh tế sẽ phục hồi vào năm 2023 hoặc sau đó. Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, tình hình kinh tế dường như là mối quan tâm cấp bách nhất đối với công dân EU. Tình hình tài chính công và nhập cư của các nước thành viên EU đứng ở vị trí thứ hai. Sức khỏe là vấn đề được đề cập nhiều thứ tư tại EU. Tiếp theo là vấn đề về môi trường và khí hậu với tỷ lệ người quan tâm là 20%, trong khi đó vấn đề thất nghiệp chiếm 17%. (THX, 25/10)

 

4. Nhật Bản và Hàn Quốc

  • Nhật Bản và Anh đã ký Hiệp định Thương mại tự do song phương nhằm đảm bảo tính liên tục trong hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai nước sau khi giai đoạn chuyển tiếp Anh rời Liên minh châu Âu (EU) kết thúc. Sau khi thỏa thuận trên có hiệu lực, Anh sẽ bỏ thuế nhập khẩu đối với toa tàu điện và phụ tùng ô tô của Nhật Bản, đồng thời giảm dần thuế suất nhập khẩu đối với mặt hàng ô tô của Nhật Bản về 0% vào năm 2026. Với Nhật Bản, nước này sẽ giảm thuế đối với nông sản nhập khẩu từ Anh xuống bằng mức áp dụng với EU theo JEFTA. Tuy nhiên, liên quan tới thương mại điện tử và dịch vụ tài chính, thỏa thuận này cấm các chính phủ yêu cầu doanh nghiệp tiết lộ các thuật toán được sử dụng trong công nghệ trí tuệ nhân tạo và dữ liệu mã hóa (Japan Times, 23/10).

●Cơ quan Hải quan Hàn Quốc ngày 25/10 cho biết, tổng giá trị trao đổi thương mại của nước này trong quý II/2020 đã giảm 18, 3% so với cùng kỳ năm ngoái, do chịu tác động của đại dịch Covid-19. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế thứ tư châu Á chỉ đạt 109 tỷ USD trong giai đoạn từ tháng 4 - 6/2020, giảm 24 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2019. Kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc trong 20 ngày đầu tháng 10/2020 đã giảm 5,8% so với cùng kỳ  năm ngoái, trong khi xuất khẩu trong giai đoạn này chỉ đạt 25,2 tỷ USD, so với con số 26,7 tỷ USD ghi nhận trong cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, Hàn Quốc hiện có mức xếp hạng tín nhiệm tương đối tốt từ các hãng xếp hạng tín nhiệm quốc tế. Moody's đang xếp hạng nợ công của Hàn Quốc ở mức Aa2, Fitch đánh giá Seoul ở mức AA-, trong khi đó S&P xếp hạng tín nhiệm nợ nước này ở mức AA (Yonhap, 25/10).

5. ASEAN và các nền kinh tế mới nổi

●Bộ trưởng Tài chính Indonesia Sri Mulyani Indrawati ngày 21/10 cho biết nền kinh tế kỹ thuật số của Indonesia sẽ tăng từ khoảng 40 tỷ USD (5,588 nghìn tỷ rupiah) lên 133 tỷ USD trong vòng 5 năm tới. Theo bà Sri Mulyani, giá trị nền kinh tế kỹ thuật số của Indonesia tiếp tục tăng trưởng hàng năm, hiện lên tới 40 tỷ USD, tăng gấp năm lần kể từ năm 2015. Đây là mức tăng rất nhanh và có tiềm năng rất lớn. Nếu giá trị của nền kinh tế kỹ thuật số đạt 133 tỷ USD vào năm 2025, thì sẽ cao gấp đôi giá trị nền kinh tế kỹ thuật số của Thái Lan (The Jakarta Post, 21/10).

  • Chính phủ Campuchia đã phê chuẩn kế hoạch chi tiêu khoảng 8,1 tỷ USD trong năm 2021. Theo thông cáo báo chí chiều 24/10, cuộc họp nội các Campuchia dưới sự chủ trì của Thủ  tướng Hun Sen đã phê chuẩn khoản ngân sách 8,134 tỷ USD, trong đó 7,5 tỷ USD chi cho hoạt động cấp trung ương và 634 triệu USD được sử dụng cho chi tiêu của địa phương. Ngân sách 2021 của Campuchia được phân bổ cho các lĩnh vực chính như quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh và trật tự công cộng, các vấn đề xã hội và kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Chính phủ Campuchia dự kiến rút 5,275 tỷ USD từ nguồn thu quốc gia trong khi lên kế hoạch vay khoảng 1,5 tỷ SDR (Quyền rút vốn đặc biệt) từ các đối tác phát triển thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (Cambodianess, 24/10).
  • Thái Lan đã đón đoàn du khách quốc tế đầu tiên sau 7 tháng đóng cửa vì đại dịch  Covid-19 theo chương trình Thị thực du lịch đặc biệt (STV) mới được nội các nước này thông qua gần đây nhằm tái khởi động "ngành công nghiệp không khói". Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) cho biết nhóm du khách này gồm 41 người Trung Quốc và đều có STV. Nền kinh tế Thái Lan phụ thuộc lớn vào du khách nước ngoài, nhưng nước này dự kiến chỉ đón một phần nhỏ so với gần 40 triệu lượt du khách quốc tế trong năm ngoái, sau khi dịch Covid-19 đã khiến ngành hàng không toàn cầu gần như đình trệ (Bangkok Post, 21/10).
  • Bộ Công Thương Ấn Độ ngày 22/10 cho biết vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại nước này trong 5 tháng đầu của năm tài khóa 2020-2021 (tháng 4-8/2020) đạt 27,1 tỷ USD, tăng 16% so với mức 23,35 tỷ USD của cùng kỳ năm ngoái. Theo đó, tổng vốn FDI, bao gồm cả thu nhập tái đầu tư, tăng 13% lên 35,73 tỷ USD. Tổng vốn FDI lũy kế của Ấn Độ đã tăng 55% từ mức 231,37 tỷ USD trong giai đoạn 2008-2014 lên 358,29 tỷ USD trong giai đoạn 2014-2020. Các biện pháp của Chính phủ Ấn Độ về cải cách chính sách FDI, tạo thuận lợi cho đầu tư và kinh doanh đã làm gia tăng dòng vốn FDI, chứng minh vị thế của Ấn Độ như một điểm đến đầu tư ưa thích của các nhà đầu tư toàn cầu (The Economics Times, 22/10)

B. KINH TẾ VIỆT NAM

●Theo tờ ASEAN Today, Việt Nam đã nâng các tiêu chuẩn trong ngành đánh bắt cá và tuân thủ các quy định trong khuôn khổ EVFTA. Theo đó, Việt Nam thực hiện rất tốt tviệc thúc đẩy nuôi cá ngừ bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc, xây dựng chuỗi giá trị và chống khai thác IUU để xuất khẩu cá ngừ sang EU. Việt Nam hiện là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn thứ ba trên thế giới, với tổng giá trị xuất khẩu lên đến 8,6 tỷ USD năm 2019. EU là thị trường lớn thứ hai về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, sau Hoa Kỳ. (Cafef, 26/10)

  • Theo dự toán được Bộ Tài chính xây dựng, ngân sách nhà nước năm 2021 sẽ tiếp tục bội chi khoảng 344 nghìn tỷ đồng trong bối cảnh thu NSNN chưa thể phục hồi, và để có nguồn lực bố trí chi đầu tư phát triển, góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Mức nợ công giao động trong khoảng 58,6% và dư nợ Chính phủ là 53,2% (tính theo quy mô GDP chưa điều chỉnh). (Bộ Tài chính, 27/10)
  • Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về xử lý nợ xấu cho thấy, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các tổ chức tín dụng trong giai đoạn 2016-2020 đã được xử lý, kiểm soát ở mức dưới 3% và liên tục giảm qua mỗi năm. Tuy nhiên, theo TS Cấn Văn Lực, ước tính nợ xấu nội bảng sẽ tăng lên 3% vào cuối năm 2020 do ảnh hưởng của Covid-19. Năm 2021, tỷ lệ này có tăng lên 4% - xoá đi thành quả kéo giảm nợ xấu về dưới 3% từ năm 2015. (Saigontimes, 20/10)

C. BÀI PHÂN TÍCH/TIN CHUYÊN SÂU

Global Times: Tại sao Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga lại chọn Đông Nam Á cho chuyến thăm nước ngoài đầu tiên? (21/10)

Mới đây, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga có chuyến thăm Đông Nam Á, trước tiên là Việt Nam, sau đó là Indonesia. Đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Thủ tướng Suga kể từ khi nhậm chức, một câu hỏi được dư luận quốc tế quan tâm là tại sao Thủ tướng Suga lại chọn hai quốc gia ASEAN thay vì đồng minh truyền thống là Mỹ? Theo phân tích, có một số lý do chính sau đây:

Một là, "tránh hiềm nghi chính trị" đối với cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Từ góc độ chính trị đối ngoại, các nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản thường chọn các đồng minh cốt lõi hoặc các nước đối tác lớn của Nhật Bản cho chuyến thăm đầu tiên sau khi nhậm chức, nhằm củng cố quan hệ hợp tác chiến lược ở tầng nấc song phương. Sau khi Mỹ và Nhật Bản trở thành đồng minh, chuyến thăm đầu tiên của các tân thủ tướng Nhật Bản thường là Mỹ, nhằm thể hiện sự coi trọng mối quan hệ đồng minh với Mỹ, đồng thời để tỏ rõ mối quan hệ đồng minh Nhật Bản-Mỹ là xuất phát điểm và mục tiêu của chính phủ Nhật Bản mới.

Nhưng thời điểm của chuyến thăm này vô cùng nhạy cảm, cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sẽ được tổ chức vào đầu tháng 11/2020. Xét về tình hình bầu cử hiện tại, đương kim Tổng thống Trump, ứng cử viên Đảng Cộng hòa và Joe Biden, ứng cử viên Đảng Dân chủ đang cân tài cân sức. Nếu Thủ tướng Suga chọn đến thăm Washington vào thời điểm này, có thể sẽ bị coi là một tuyên bố công khai về sự ủng hộ của Nhật Bản đối với việc tái đắc cử của Tổng thống Trump, được hiểu là "đặt cược" chính trị vào Tổng thống Trump.

Hai là, Việt Nam và Indonesia cũng là đối tác mang tính đại diện của Nhật Bản tại khu vực Đông Nam Á, là "quốc gia trọng tâm" trong việc mở rộng "chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" của Nhật Bản trong tương lai, một trong những di sản chính trị chính được chính quyền Suga Yoshihide kế thừa từ chính quyền Abe, là điểm tựa chính cho việc mở rộng chiến lược đối ngoại của mình. Nhìn chung, chính phủ Yoshihide Suga sẽ nêu bật các đặc trưng "Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" phiên bản Nhật Bản, một mặt nhấn mạnh vai trò nền tảng của hợp tác kinh tế, mặt khác lại "âm thầm" lồng ghép các cân nhắc về an ninh. Theo quan điểm này, về phương diện đối tác kinh tế chủ yếu, đối tác an ninh quan trọng hay đối tác chính trị, Việt Nam và Indonesia trở thành "điểm đến" của Yoshihide Suga là hợp tình hợp lý.

Từ góc độ chính trị, cả Việt Nam và Indonesia đều là cường quốc khu vực Đông Nam Á, có ảnh hưởng mạnh mẽ trong ASEAN. Đồng thời, Việt Nam giữ chức chủ tịch ASEAN trong năm 2020, còn Indonesia là thành viên G20 duy nhất trong số các quốc gia ASEAN. Cả Hội nghị cấp cao ASEAN và Hội nghị thượng đỉnh G20 đều dự kiến được tổ chức vào tháng 11/2020, chính phủ Yoshihide Suga rõ ràng hy vọng sẽ có ảnh hưởng chính trị nhất định đối với Hội nghị cấp cao ASEAN và Hội nghị thượng đỉnh G20, thậm chí hy vọng xây dựng "đồng minh chính trị" về các vấn đề cụ thể, mở rộng "mẫu số chung lớn nhất" giữa Nhật Bản và các đối tác chính trị này. Do vậy, các vấn đề và quan điểm mà Thủ tướng Suga nêu ra trong chuyến thăm này có thể trở thành yêu cầu chính của Nhật Bản trong các hội nghị khu vực và toàn cầu như Hội nghị thượng đỉnh G20.

Từ góc độ kinh tế, các nước Đông Nam Á là đối tác hợp tác chính của Nhật Bản trong việc điều chỉnh chuỗi công nghiệp và chuỗi cung ứng. Một trong những chủ đề chính trong chuyến đi của Thủ tướng Suga là "điều chỉnh chuỗi cung ứng"- chuyển một số cơ sở sản xuất linh kiện hoặc thành phẩm từ các khu vực có chi phí sản xuất cao và có nhiều hạn chế sang các khu vực có chi phí thấp và ít hạn chế hơn như Đông Nam Á, nhằm giảm chi phí cho chuỗi cung ứng với trọng tâm là công nghệ Nhật Bản, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu và năng lực cạnh tranh thị trường của các sản phẩm của Nhật Bản. Kể từ khi chính phủ Abe công khai ủng hộ doanh nghiệp Nhật Bản chuyển dịch cơ sở sản xuất ra khỏi Trung Quốc hoặc quay về chính quốc, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản và cơ quan trực thuộc là Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản đã lựa chọn một số đối tượng hỗ trợ chính sách. Xét từ quan điểm này, chuyến thăm của Thủ tướng Suga cũng là sự "trải thảm chính trị" cho hoạt động kinh tế của Nhật Bản trong tương lai, nói ngắn gọn là "dùng chính trị để thúc đẩy kinh tế", hy vọng các quốc gia Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam và Indonesia, có thể chấp nhận các doanh nghiệp Nhật Bản, đầu tư của Nhật Bản một cách một cách thuận lợi hơn.

Ngoài ra, về góc độ phát triển kinh tế toàn cầu, tình hình kinh tế tổng thể của khu vực Đông Nam Á tương đối tốt, tăng trưởng kinh tế ổn định trong nhiều năm, quy mô tầng lớp trung lưu của các nước ASEAN ngày càng mở rộng, tiềm năng tiêu dùng ngày càng tăng. Do đó, đối với Nhật Bản, Đông Nam Á không chỉ đơn thuần là cơ sở sản xuất, nguồn cung cấp nguyên liệu mà còn là thị trường tiêu thụ thực tế hoặc tiềm năng cho các sản phẩm của Nhật Bản, thậm chí là một trong những nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chính của Nhật Bản trong tương lai. Đánh giá từ góc độ này, Đông Nam Á là một "kho báu" có sức quyến rũ vô hạn đối với Nhật Bản, quốc gia có diện tích nhỏ và dân số ngày càng giảm.

Từ các lý do trên, chuyến thăm Việt Nam và Indonesia lần này phản ánh đầy đủ định hướng và nội hàm chiến lược đối ngoại của Thủ tướng Nhật Bản Suga, cũng là bước đi đầu tiên hướng tới mục tiêu đã định./.

 

 

 


Tin liên quan
Hiệp định RCEP mở ra cơ hội nào cho đồ điện tử gia dụng Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam    23/11/2020
Những quan điểm khác nhau của Châu Âu trong quan hệ với Hoa Kỳ sau bầu cử    20/11/2020
Dự báo về 8 thay đổi trong chính sách quân sự Mỹ sau khi ông Biden lên cầm quyền    19/11/2020
WHO kêu gọi các nước xem kiến tạo hòa bình và ngăn chặn Covid-19 là hai phạm trù không thể tách rời    19/11/2020
Nhiều mặt hàng nông sản đạt giá trị xuất khẩu cao dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19    19/11/2020
Tổng hợp ý kiến các nước về Hội nghị Cấp cao Đông Á và các Hội nghị liên quan    19/11/2020
RCEP và vai trò đi đầu của ASEAN trong việc củng cố hệ thống thương mại đa phương    19/11/2020
Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 17/11/2020)    18/11/2020
Bản tin Ngoại giao kinh tế (Thứ Ba, ngày 10/11/2020)    16/11/2020
Hội thảo khoa học quốc tế về biển Đông lần thứ 12 tại Hà Nội    16/11/2020

Liên kết Liên kết